Xây dựng hồ chứa nước lót màng chống thấm HDPE , cách tiếp cận theo quan điểm sinh thái

Nguồn: Viện Khoa học Thủy lợi VN

Nghiên cứu các hồ chứa nước lót màng chống thấm HDPE  phục vụ cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu, phát điện, cắt lũ và nuôi trồng thủy sản mà ngành thủy lợi đã làm trước đây cũng đã góp phần bảo vệ phát triển các hệ sinh thái tự nhiên. Tuy nhiên việc nghiên cứu một cách bài bản có cơ sở khoa học xây dựng hồ chứa theo tiêu chí/quan điểm sinh thái phục vụ đa mục tiêu như cấp nước, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường thì chưa được quan tâm đúng mức…

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi

màng-chống-thấm-hdpe-giá-rẻ-tại-hà-nội

bat-lot

màng-chống-thấm-hdpe-giá-rẻ-hà-nội


Nói đến hồ chứa nước có lót màng chống thấm HDPE (hồ thủy lợi nói chung) thì Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong việc xây dựng hàng loạt hệ thống hồ phục vụ tưới, cấp nước.
Ở đây đối tượng nghiên cứu chính là các dạng hồ chứa với các mục tiêu nhiệm vụ do con người đặt ra như cấp nước, phát điện, nuôi thủy sản, cải tạo cảnh quan môi trường, du lịch… và các hệ sinh thái tự nhiên đó là các khu rừng cây, đồng cỏ, thảm thực vật, ao hồ, đất ngập nước… cùng các loài muông thú trên cạn, dưới nước được hình thành và phát triển từ hồ sinh thái. Các tác giả nêu lên việc nghiên cứu hồ chứa theo quan điểm sinh thái, cách tiếp cận bền vững trong xây dựng các công trình chứa nước ở Việt Nam, bài viết này sẽ làm sáng tỏ thêm những vấn đề trên.

Sinh hoạt, phát điện, giao thông vận tải thủy, du lịch, nuôi trồng thủy sản v.v… Trong số đó phải nhắc tới nhiều công trình lớn với những lợi ích tổng hợp như hồ Hòa Bình, Thác Bà, Yali, Dầu Tiếng, Trị An, Thạch Nham, Sông Hinh v.v… ngoài mục tiêu chủ yếu là cấp nước tưới, phát điện, các hồ chứa lót màng chống thấm HDPE này cũng đã tạo nên những rừng cây xanh tốt quanh hồ, là nơi trú ngụ của nhiều loài chim thú, tạo nên một bức tranh phong cảnh đẹp với môi trường khí hậu trong lành đã làm cân bằng lại hệ sinh thái vốn đang bị tác động chưa hợp lý của con người. Như vậy có thể nói đặc trưng sinh thái của hệ thống các hồ chứa lót màng HDPE đã xây dựng (hồ nhân tạo) ở nước ta là mang tính tự nhiên, chẳng hạn hồ chứa được xây dựng sẽ nâng cao mực thủy cấp, độ ẩm đảm bảo ổn định đã thúc đẩy hệ sinh vật phát triển, thu hút động thực vật đến sinh sống (do đó mà người ta nhất trí rằng sinh thái – một đặc trưng tự nhiên của hồ chứa nước, hồ chứa không ô nhiễm). Trong quá trình nghiên cứu xây dựng các hồ chứa nước trước đây, ít khi chúng ta sử dụng thuật ngữ hồ sinh thái mà chỉ nói hồ chứa chung chung và cho rằng sinh thái là đặc trưng tất yếu của hồ chứa nước lót màng HDPE

Thời gian qua xuất phát từ những yêu cầu của cuộc sống, của sự nghiệp xây dựng đất nước, đưa nhanh dân tộc thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, trong một chừng mực nào đó, chúng ta chưa quan tâm đúng mức vấn đề môi trường, vấn đề bảo tồn hệ sinh thái trên các vùng lãnh thổ. Vì vậy các nghiên cứu về sinh thái học, môi trường chưa được chú ý đầu tư, khái niệm xây dựng hồ sinh thái thực tế chưa được đề cập. Các vấn đề liên quan đến nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội đã được nghiên cứu chuyên sâu nhưng nghiên cứu về nguồn nước nhằm bảo tồn, đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường thì còn hạn chế v.v… Do khái niệm sinh thái bền vững, sinh thái ổn định mới được đưa vào những năm gần đây nên chưa gắn thuật ngữ “sinh thái” với hồ chứa nước. Chính vì vậy cụm từ hồ sinh thái là một khái niệm mới, rộng hơn. Hồ chứa nước thông thường có thể không có khu rừng cây, khu đất ướt (wetland), không có nơi cư trú của các loài động vật hoang dã v.v… nhưng hồ sinh thái lót màng chống thấm HDPE thì cần phải có đầy đủ các đặc trưng nêu trên, đó là vấn đề cấp nước, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường để tạo nên một quần thể sinh học đa dạng gắn kết với môi trường đất, nước và không khí trong lành, bền vững. Trong các bài viết trước, chúng tôi đã đề cập sự cần thiết phải nghiên cứu xây dựng hệ thống hồ sinh thái ở Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung, bài viết này sẽ tiếp cận nghiên cứu hồ lót màng HDPE theo quan điểm sinh thái, một vấn đề cấp thiết đặt ra trong quá trình xây dựng hồ chứa ở nước ta.

Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận nghiên cứu

Tiếp cận thực tiễn, hệ thống, toàn diện và tổng hợp

Đối tượng nghiên cứu ở đây là hồ sinh thái lót màng chống thấm HDPE, bạt HDPE  nằm trên một vùng lãnh thổ rộng lớn nên sự thay đổi về không gian, điều kiện địa hình, địa chất, những biến đổi về thời tiết khí hậu, khí tượng – thủy văn rất phức tạp. Đặc biệt có nơi sự phân bố dòng chảy không đều giữa 2 mùa mưa và khô, sự can thiệp tác động quá giới hạn của con người. Nhu cầu dùng nước để phát triển kinh tế xã hội ngày càng lớn, nguy cơ ô nhiễm cạn kiệt nguồn nước ngày một gia tăng, môi trường sinh thái đang bị đe dọa nghiêm trọng v.v… Tất cả những yếu tố đó tác động rất lớn đến hồ sinh thái, do đó đòi hỏi phải tiếp cận thực tiễn, hệ thống, toàn diện và tổng hợp trên vùng lãnh thổ mới giải quyết được mục tiêu nghiên cứu đề ra.

Tiếp cận kế thừa tri thức, kinh nghiệm và cơ sở dữ liệu đã có một cách chọn lọc

Hệ thống hồ chứa/hồ sinh thái lót màng HDPE, bạt HDPE  trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng tuy còn nhiều tồn tại, khiếm khuyết cần được khắc phục, nhưng nó chiếm một vị thế rất quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ. Đó là sản phẩm vô cùng quý giá, là kết quả của bao thế hệ đã dày công nghiên cứu, đầu tư về sức lực, trí tuệ và vật chất rất đáng trân trọng. Do đó trong cách tiếp cận này sẽ:

– Tổng hợp lý thuyết và thực tiễn để xác định phương pháp luận về cơ sở khoa học xây dựng hồ sinh thái ở Việt Nam.

– Tổng quan giữa phát triển và suy thoái, tích cực và tiêu cực trong quá trình đầu tư phát triển hệ thống hồ sinh thái lót màng chống thấm HDPE (bạt HDPE)

– Đề xuất giải pháp xây dựng hồ sinh thái có cơ sở, hợp lý và tính khả thi cao.

Tiếp cận phương pháp quản lý tài nguyên nước, đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường

Đây là cách tiếp cận nhằm phòng tránh và giảm thiểu hiểm họa thiên tai phù hợp với tiềm lực kinh tế của đất nước còn nhiều hạn chế, khả năng đầu tư chưa cao, thiếu cơ sở vật chất và những đặc thù về văn hóa xã hội, tập quán trên các vùng miền trong cả nước. Và đặc biệt bảo vệ tính đa dạng sinh học và môi trường của vùng lãnh thổ vốn giàu tiềm năng này.

Tiếp cận đa mục tiêu

Hồ sinh thái được nghiên cứu xây dựng sẽ phục vụ cấp nước, tưới tiêu, phát điện, cắt lũ, nuôi trồng thủy sản, du lịch sinh thái, nâng cao mực nước ngầm trong lòng đất, cải tạo khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường.

Tiếp cận nguyên lý phát triển bền vững

Nghiên cứu hồ chứa lót màng chống thấm HDPE theo quan điểm sinh thái nhằm khai thác tổng hợp tài nguyên nước, quản lý các hệ sinh thái, bảo tồn tính phục hồi, đa dạng sinh học là vấn đề rất cần thiết để phát triển bền vững kinh tế – xã hội. Do đó xuyên suốt trong các giải pháp đề xuất phương án xây dựng có hiệu quả hồ sinh thái lót màng HDPE (bạt HDPE), cách tiếp cận này sẽ:

– Tiếp cận mang tính kinh tế – xã hội, đề cập đến nguyên tắc đền bù do tổn hại tài nguyên môi trường, phát triển tiến bộ khoa học kỹ thuật để hạn chế việc sử dụng tài nguyên nước và tối ưu hoá việc dùng nước để tái tạo.

– Tiếp cận kinh tế: (Tài sản vốn) = (Tài sản tạo nên) + (Tài sản tự nhiên) + (Chất lượng môi trường).

– Tiếp cận sinh thái: Quản lý các hệ sinh thái, đảm bảo tính phục hồi, đa dạng sinh học để phát triển bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp kế thừa, áp dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến về xây dựng hồ chứa lót màng HDPE (bạt HDPE), hiện có trên thế giới và trong nước.

– Phương pháp khảo sát thực địa, tổng kết thực tiễn và đánh giá nhu cầu phát triển hồ lót màng HDPE (bạt HDPE),trên các vùng sinh thái ở Việt Nam.

– Phương pháp chuyên gia và điều tra có sự tham gia của cộng đồng.

– Phương pháp thống kê, phân tích đánh giá tính sinh thái của các dạng hồ lót màng HDPE (bạt HDPE), đã có, cả hồ tự nhiên và hồ nhân tạo.

– Phương pháp thiết lập hệ thống quan trắc và theo dõi diễn biến môi trường.

– Phương pháp phân tích tương tự so sánh hệ sinh thái trên các vùng miền khác nhau.

– Phương pháp mô hình toán tính thủy văn, thủy lực, cân bằng nước và mô phỏng lưu vực, quản lý tài nguyên nước mặt theo dạng liên hồ chứa.

– Phương pháp thực nghiệm (thiết kế thực nghiệm mô hình, xây dựng thử nghiệm, xây dựng mẫu hồ sinh thái…).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Khái niệm và định nghĩa hồ sinh thái lót màng HDPE (bạt HDPE),

Hồ sinh thái (Ecological lake) là hồ chứa nước mang đầy đủ đặc trưng, tính chất và tiêu chuẩn của một hồ vừa đủ sạch nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên và sinh thái cảnh quan, mang đến các lợi ích to lớn cho cuộc sống con người như cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất, tưới tiêu và nuôi trồng thủy sản, ngoài ra còn là nơi nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái, cải tạo tiểu khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường trong lưu vực hồ.

Trên đây mới là một khái niệm chung nhất để đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng hồ sinh thái ở Việt Nam. Với sự ưu đãi của thiên nhiên, nước ta có rất nhiều hồ chứa và nhiều vùng đất có thể phát triển thành hồ sinh thái. Để hình thành một hồ sinh thái cần có những tiêu chí và chỉ tiêu tùy theo mục đích và yêu cầu khai thác sử dụng. Tuy nhiên như trên đã trình bày, do khái niệm hồ sinh thái còn khá mới mẻ, các nghiên cứu  về lĩnh vực này ở nước ta chưa nhiều, ngoài một số đề tài liên quan đến bảo vệ nguồn nước, đến hệ sinh thái, thảm phủ thực vật, thiên tai hạn hán v.v… thì có thể thấy rằng đối tượng mà chúng tôi tiếp cận nghiên cứu ở đây là các hồ cấp nước lót màng HDPE (bạt HDPE),, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường có kết hợp với hệ sinh thái thiên nhiên, hay nói rõ hơn đó là “Hồ chứa với các loại hồ sinh thái tự nhiên và hồ sinh thái nhân tạo”.

Thống kê hệ thống hồ chứa lót màng HDPE (bạt HDPE), có tính sinh thái cao ở Việt Nam

Hệ thống hồ tự nhiên và hồ nhân tạo ở nước ta khá phong phú. Theo điều tra nghiên cứu của Trường Đại học Thủy lợi (2005) [5] và Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam (2005) hiện có khoảng 20 hồ tự nhiên và 16 hồ chứa nhân tạo mang tính sinh thái cao cần được bảo vệ (xem Bảng 1, 2). Môi trường xung quanh hồ chủ yếu là các hệ sinh thái và vùng đất ướt mà ngày nay đang là đối tượng cần được nghiên cứu và sử dụng hợp lý.

Bảng 1. Các hồ chứa tự nhiên lót màng HDPE (bạt HDPE), màng chống thấm HDPE mang tính sinh thái cao ở Việt Nam

STT Tên hồ Tỉnh Diện tích (ha) Ñòa ñieåm Đặc điểm
1 Hồ Ba Bể Cao Bằng 450 24o45’N,105o 37’E Hồ nước ngọt rộng trên núi miền Bắc Việt Nam.
2 Hồ Chu Vĩnh Phú 300 21o36’N,104o 54’E Hồ tự nhiên có thực vật nước ngọt và chim nước.
3 Hồ Chính Công Vĩnh Phú 400 21o31’N,105o 05’E Hồ tự nhiên có cá,  chim nước và thực vật nước ngọt.
4 Hồ Tam Đảo Vĩnh Phú 2 22o25’N,105o 35’E Hồ ao tự nhiên nhỏ có loài sa giông đặc hữu.
5 Đầm Vạc Vĩnh Phú 250 22o25’N,105o 35’E Thực vật đầm lầy
6 Hồ Suối Hai Hà Tây (cũ) 700 21o10’N,105o 25’E Hồ tự nhiên chứa nước ngọt, có đầm sen.
7 Hồ Đồng Mô (Ao Vua) Hà Tây (cũ) 700 21o03’N,105o 50’E Hồ tự nhiên chứa nước và chim
8 Hồ Tây Hà Nội 413 21o03’N,105o 50’E Hồ nước ngọt tự nhiên có cá và chim nước cư trú.
9 Đầm Hoa Lư Ninh Bình 1000 20o18’N,105o 55’E Hệ thực vật trên diện tích đá vôi
10 Đầm Bai Thuang Thanh Hóa 200 19o59’N,105o28’E Hệ thực vật đầm nước ngọt.
11 Hồ Yên Mỹ Thanh Hóa 300 19o30’N,105o41’E Hồ tự nhiên nước ngọt có cá và chim.
12 Phá Tam Giang Huế 8000 16o35’N,107o30’E Phá eo biển có cá và chim di trú
13 Đầm Cầu Hai Huế 12000 16o20’N,107o50’E Đầm lớn nhất ven biển có cá và chim di trú.
14 Biển Hồ Gia Lai 600 14o03’N,108o01’E Hồ núi nửa, có 3 loài cá đặc hữu.
15 Đầm Ô Loan Phú Yên 1500 13o37’N,109o17’E Đầm nước ngọt nhỏ có chim nước di trú
16 Tây Sơn Phú Yên 80 13o03’N,108o41’E Bầu nước có cá sấu và chim nước
17 Hồ Buôn Mê Thuột Đắc Lắc 100 12o40’N,108o01’E Hồ nhỏ có rừng thứ sinh và chim nước
18 Hồ Nam Ka Đắc Lắc 1000 12o20’N,107o58’E Hồ và đầm nước ngọt có hệ động thực vật quý hiếm
19 Đầm Biển Lạc Bình Thuận 2000 11o10’N,107o40’E Hồ và rừng đầm lầy theo mùa
20 Cát Tiên Đồng Nai 2500 11o30’N,108o20’E Đầm nước ngọt và nhiều hồ nhỏ có chim nước.

Nguồn: Tổng hợp từ Trường ĐH Thủy lợi và Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, 2005.

Bảng 2. Các hồ chứa nhân tạo mang tính sinh thái cao ở Việt Nam

STT Tên hồ Tỉnh Diện tích (ha) Địa điểm Đặc điểm
1 Hồ Cẩm Sơn Hà Bắc 2630 21o32’N,106o 34’E Hồ nước ngọt có loài cá địa phương và một số chim mùa đông.
2 Hồ Núi Cốc Thái Nguyên 2580 21o35’N,105o 42’E Hồ chứa nước ngọt có 10 loài cá và chim mùa đông.
3 Hồ Thác Bà Yên Bái 23400 21o42′-22o05’N,

104o 45′-105o 03’E

Hồ chứa nước ngọt và chim nước mùa đông.
4 Hồ Hòa Bình Hòa Bình 72800 20o48′-21o45’N,

104o 05′-105o 15’E

Đập thủy điện, hồ rộng và sâu ở thung lũng, có cá nước ngọt
5 Hồ Yên Lập Quảng Ninh 600 21o05’N,106o 50’E Hồ chứa nước lợ
6 Hồ Cát Bà Hải Phòng 2 20o45’N,107o 00’E Hồ nhỏ và hệ động thực vật
7 Hồ Sông Mã (Bến En) Thanh Hóa 700 19o42’N,105o33’E Mở rộng hồ thành hồ chứa nước ngọt
8 Hồ Kẻ Gỗ Hà Tĩnh 2500 18o13’N,105o55’E Hồ nước ngọt chứa nước có cá và chim nước (Vịt cánh trắng).
9 Hồ Phú Ninh Quảng Nam 50 15o26’N,108o30’E Hồ chứa nước, có loài chim nước.
10 Hồ Yali Kon Tum 1000 13o59’N,107o35’E Hồ chứa nước trên cao nguyên.
11 Hồ Núi Một Bình Định 1500 14o45’N,109o59’E Hồ chứa nước nhỏ
12 Hồ Lạc Đắc Lắc 500 12o25’N,108o11’E Hồ có cảnh đẹp, chim, cá và cá sấu
13 Hồ Đan Kia Lâm Đồng 200 12o00’N,107o22’E Hồ nước ngọt có cảnh đẹp trong rừng thông.
14 Hồ Đơn Dương Lâm Đồng 1000 11o50’N,108o35’E Hồ nước ngọt có cảnh đẹp trong rừng thông.
15 Hồ Trị An Đồng Nai 10000 11o10’N,107o10’E Hồ đập thủy điện rộng có một số loài chim nước.
16 Hồ Dầu Tiếng Tây Ninh 5000 11o15-11o32’N, 106o10′-106o30’E Hồ chứa nước lớn làm nhiệm vụ tưới, cấp nước sinh hoạt và đẩy mặn.

Nguồn: Tổng hợp từ Trường ĐH Thủy lợi và Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, 2005

Các tiêu chí cơ bản của hồ sinh thái:

– Hồ sạch (hồ không bị ô nhiễm, không bị phú dưỡng hóa): có hệ thống kiểm soát môi trường, chất lượng nước lót màng HDPE 

– Có vành đai hệ thống cây xanh và thảm phủ thực vật.

– Cơ sở hạ tầng: khu nhà nghỉ dưỡng, đường giao thông quanh hồ hoàn chỉnh đồng bộ gắn kết cộng đồng.

– Đa mục tiêu: cấp nước, phát điện, nuôi thủy sản, du lịch sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, cải tạo môi trường, tiểu khí hậu.

– Phù hợp với hiện tại, không mâu thuẫn với tương lai về hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường.

– Phát triển bền vững, v.v…

Vai trò và lợi ích của hồ sinh thái màng HDPE đối với tự nhiên và xã hội:

– Dự trữ và cung cấp nước ngọt cho các mục đích khác nhau.

– Vận chuyển nước trong môi trường tự nhiên: sự trao đổi nước hồ với các dòng chảy bên ngoài góp phần làm chất lượng nước trong vùng tốt hơn, nâng cao mực nước ngầm trong lòng đất.

– Có vai trò cắt lũ và điều tiết mực nước lũ trong vùng (hồ điều tiết mùa, điều tiết năm).

– Điều chỉnh dòng chảy giữa 2 mùa mưa và khô (trữ nước mùa mưa để tri dùng cho mùa khô).

– Tác dụng điều tiết nước hồ xả đẩy mặn (đối với các hồ vùng ven biển), ém phèn (đối với các hồ vùng chua phèn).

Vai trò của hồ về phát triển kinh tế – xã hội:

– Tạo ra nguồn sản phẩm tự nhiên trong khu vực: các loài động thực vật sống trong hồ và xung quanh lưu vực hồ.

– Phát triển, xây dựng nhà máy thủy điện, sản xuất ra điện năng.

– Hồ sinh thái màng HDPE có thể kết hợp nuôi trồng thủy sản, dùng để cắt lũ, giảm ngập lũ cho một vùng nào đó.

 

– Cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu cải tạo đồng ruộng, tái tạo một vùng lãnh thổ.

– Hồ sinh thái  lót màng HDPE gắn với các chương trình quốc gia: Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, chương trình đa dạng sinh học, bảo tồn đất ngập nước ở Việt Nam, chương trình dân sinh vùng lũ ở ĐBSCL (hồ sinh thái được hình thành từ việc lấy đất tôn nền các cụm tuyến dân cư vượt lũ,[2], [3]) v.v…

Vai trò của hồ lót màng chống thấm HDPE, màng HDPE, bạt HDPE, bat HDPEvề môi trường sinh thái

– Có vai trò điều hòa tiểu khí hậu trong vùng.

– Tạo cảnh quan môi trường sinh thái, khu vui chơi giải trí và du lịch nghỉ dưỡng.

– Có ý nghĩa về bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên: tạo vùng đệm và là nơi có giá trị cho các chu kỳ sống của một số loài cây và động vật hoang dã.

– Là nơi tạo điều kiện cho sự hiện diện các loài chim thú quý hiếm, là nơi ở quần thể, các hệ sinh thái cảnh quan và các loại đất ngập nước.

– Góp phần hình thành ngân hàng gen: hồ và xung quanh hồ là nơi sống của nhiều loài động thực vật đặc hữu của vùng. Bảo tồn thiên nhiên, động thực vật hoang dã.

– Đại diện cho đất ngập nước của vùng hồ.

Vai trò về khoa học – giáo dục

– Là nơi học tập và nghiên cứu khoa học về tài nguyên nước, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh thái học và môi trường…

– Là địa điểm được xếp loại về lịch sử, văn hóa, khu bảo tồn đa dạng sinh học, tham quan du lịch.

– Là nơi giáo dục ý thức cộng đồng về bảo vệ tài nguyên môi trường.

– Có ý nghĩa về văn hóa xã hội:

+ Ý nghĩa về tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống.

+ Là vùng hoang dã hoặc khu dự trữ sinh quyển được bảo tồn.

+ Có tầm quan trọng về lịch sử văn hóa, sinh thái nhân văn.

Tóm lại việc xây dựng hồ sinh thái lót màng chống thấm HDPE mang lại nhiều lợi ích to lớn và cũng gây ra những nhược điểm như xây dựng hồ có thể làm ngập nhiều đất đai, làng mạc, thậm chí cả các khu di tích lịch sử, văn hóa. Xây dựng hồ có thể gây ngập úng hoặc cạn kiệt dòng chảy môi trường ở khu vực hạ lưu, làm xuất hiện những ký sinh trùng gây bệnh dịch, làm thiếu hoặc mất nguồn nước ở vùng khác hoặc xáo trộn cuộc sống của dân cư lưu vực hồ. Đặc biệt hồ chứa có thể bị sự cố rất nguy hiểm khi đập đất tạo hồ, vì một lý do kỹ thuật nào đó đập bị vỡ, tổn thất không lường được. Với những lợi ích và nhược điểm như vậy và bản chất chung của hồ sinh thái chính là sự đa dạng, đa mục tiêu của nó nên việc quyết định xây dựng hồ theo quan điểm sinh thái là một công việc quan trọng, phải dựa trên cơ sở tính toán và thẩm định khoa học từ mục tiêu nhiệm vụ cũng như vị trí quy mô đầu tư, từ điều kiện tự nhiên đến kinh tế xã hội và môi trường.

Kết luận

Việt Nam đã có rất nhiều hồ sinh thái lót màng chống thấm HDPE thể tự nhiên và nhân tạo trải dài từ Bắc xuống Nam, ngoài ra một số vùng đất có khả năng phát triển thành hồ sinh thái nhân tạo. Hiện nay, các hồ đã và đang có xu hướng suy thoái và ô nhiễm, phú dưỡng hóa trầm trọng do tác động của con người. Bên cạnh đó, còn một số vùng đất có khả năng phát triển thành hồ sinh thái nhưng lại bị bỏ hoang. Vấn đề hiện nay là phải cải tạo những hồ đã bị ô nhiễm, đồng thời xây dựng thêm những hồ mới. Tùy từng vùng mà ta có biện pháp cải tạo cũng như xác định vị trí xây dựng hồ mới cho phù hợp. Phát triển hồ sinh thái theo hướng phát triển bền vững vừa bảo vệ môi trường vừa mang lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội cho vùng.

Hệ thống hồ chứa lót màng chống thấm HDPE được xây dựng ở nước ta đã mang lại hiệu quả rất to lớn về kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường, tuy nhiên chưa đạt được đầy đủ các tiêu chí về hồ sinh thái, các hồ chứa đã xây dựng còn nhiều khiếm khuyết, thiếu những giá trị to lớn của hồ về môi trường sinh thái dẫn đến hiệu quả đầu tư chưa cao. Do việc sử dụng nước ngày một gia tăng của các quốc gia thượng nguồn trong lưu vực, sự mất cân bằng nước giữa 2 mùa mưa và khô dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng tài nguyên nước về lượng và chất về mùa khô. Một trong những giải pháp đóng vai trò chủ đạo để tạo nguồn nước ngọt, điều phối lượng nước từ mùa lũ sang mùa kiệt là phát triển hệ thống hồ sinh thái trên các vùng lãnh thổ.

Mặt khác cần thiết lập một số dự án điển hình về hồ sinh thái từ đó rút ra những thông số về kỹ thuật, kinh tế – môi trường để áp dụng trên các vùng sinh thái ở Việt Nam. Nâng cấp và hoàn thiện các hồ chứa đã có và các dự án hồ chứa xây dựng mới theo tiêu chí hồ sinh thái nhằm khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước hiệu quả và bền vững. Nên đổi tên cụm từ HỒ CHỨA = HỒ SINH THÁI khi đầu tư phát triển xây dựng các hồ chứa mới trên phạm vi cả nước. Ngoài ra Màng chống thấm HDPE bạt Lót Hồ Tôm HDPE

 

 

Kỹ thuật đổ bê tông dầm, sàn, mái và cầu thang

Nguồn: sưu tầm
Bộ phận chủ yếu của sàn bê tông cốt thép là bản nằm ngang . Sàn có bản kê lên các tường hoặc các dầm đặt theo các cạnh của ô bản . Bản là hệ dầm thường được đổ bê tông liền khối với nhau . Hệ dầm có thể được bố trí theo một phương hoặc hai phương .
Hệ kết cấu nằm ngang và thẳng đứng
– Sàn thuộc nhóm kết cấu nằm ngang . Toàn bộ các nhóm kết cấu sàn được đặt lên các bức tường và các cột là nhóm kết cấu thẳng đứng . Cột cùng với dầm tạo thành khung và khung chính là kết cấu đỡ sàn .
– Sàn, mái là những cấu kiện bê tông cốt thép chịu lực trên mặt phẳng ngang . Cấu tạo của nó như một tấm lưới ô vuông bằng thép . Đây là phần chịu lực chính . Phần bê tông đóng vai trò làm cứng sàn vì thép rất dẻo , có thể bị uốn võng nếu đứng độc lập . Do đó sàn thường gặp hiện tượng võng nếu khoảng cách các thanh thép quá nhỏ so với yêu cầu hoặc bê tông sàn không đủ chiều dày . Có những ngôi nhà lơn, các tấm sàn rộng thượng bị rung ( đi mạnh cân thấy sàn nhà rung ).do chiều dày lớp bê tông không đủ ( thường mỏng hơn 80-100mm).
– Các dầm chính kê lên các cột và cùng với cột tạo thành khung. Các dầm phụ kê lên các dầm chính và tường ngoài . Bản kê lên các dầm phụ và tường dọc ngoài . Khi ô bản chỉ có liên kết ở hai cạnh song song, bản chỉ bị uốn theo phương vuông góc với cạnh liên kết . Khi ô bản có liên kết ở cả bốn cạnh, bản bị uốn theo cả hai phương .
Đổ bê tông dầm
– Trong nhà ở dân dụng, chiều cao dần ít khi vượt quá 50cm, người ta thường tiến hành đổ bê tông dầm cùng với bản sàn . Những trường hợp đặc biệt chiều cao dầm lớn hơn 80 cm, mới đổ bê tông dầm riêng không chung  với bản sàn . Với loại dầm này , người ta không đổ bê tông thành từng lớp theo suốt chiều dài dầm mà sẽ đổ theo kiểu bậc thang từng đoạn khoảng 1m , đạt tới cao độ dầm rồi mới đổ đoạn kế tiếp .
– Khi đổ bê tông toàn khối dầm và bản sàn liên kết với cột, cần chú ý sau khi đổ cột đến độ cao cách mặt đáy dầm tự 3-5cm, ta phải ngừng lại 1-2 giờ để bê tông có đủ thời gian co ngót rồi mới đổ tiếp dầm và bản sàn. Thông thường khi thực hiện thủ công với một số ít thợ , công việc này được tách ra làm hai giai đoạn, giai đoạn một đổ cột xong, mới tiến hành ghép cốp pha dầm và bản sàn để thực hiện tiếp giai đoạn hai
Đổ bê tông sàn các tầng
– Sàn cũng có cấu tạo gần giống như dầm, nhưng sàn có mặt cắt ngang rộng hơn và chiều dày lại nhỏ hơn, do đó không cần cốt thép khung và đai . Chiều dày sàn nhà ở thông thường từ 8 đến 10cm . Bê tông sàn thường không có yêu cầu chống thấm, chống nóng cao như mái , sử dụng màng chống thấm HDPE  nhưng cũng phải tuân thủ việc bảo dưỡng tránh không bị nứt .Phải đổ bê tông sàn theo hướng giật lùi và thành một lớp , tránh hiện tượng phân tần có thể xảy ra
chong-tham-mang-hdpe-lot-san-be-tong
– Mặt sàn chia thành từng dải để đổ bê tông, mỗi dải rộng từ 1 đến 2 m. Đổ xong một dải sau đó trải màng chống thấm HDPE mới đổ dải kế tiếp .Khi đổ đến cách dầm chính khoảng 1m , bắt đầu đổ dầm chính . Đổ bê tông vào dầm đến cách mặt trên cốp pha sàn khoảng từ 5 đến 10cm lại tiếp tục đổ bê tông sàn > khi đổ bê tông sàn cần khống chế độ cao bằng các cữ, nếu không sẽ bị lãng phí bê tông ở khâu này . Dùng bàn xoa gỗ đập và xoa cho phẳng mặt sau khi đã đầm dùi kỹ. Màng chống thấm HDPE có tác dụng chống thấm, ngăn nước, độ ẩm xâm nhập rất tốt
– Khối bê tông cần đổ bao giờ cũng ở vị trí thấp hơn vị trí của các phương tiện vận chuyển bê tông tới, tức là đường vận chuyển bê tông phải cao hơn kết cấu công trình . Đổ bê tông sàn bắt đầu từ chỗ xa nhất với vị trí tiếp nhận và lùi dần về vị trí gần . Tránh không cho nước đọng ở hai đầu và các góc cốp pha, dọc theo mặt vách hộc cốp pha .Tất cả các thao tác như đầm, gạt mặt, xoa phải tiến hành ngay lập tức , theo hình thức “ cuốn chiếu “ từng khu vực đã đổ được 15 phút .
Đổ bê tông mái 
– Mái toàn khối là hệ kết cấu mái được sử dụng rộng rãi vì có khả năng chống thấm cao, tạo độ cứng không gian lớn cho công trình . Cấu tạo bản mái toàn khối gần giống cấu tạo bản sàn phẳng nhưng mái phải đảm bảo được yêu cầu về cách nhiệt, chống dột, chịu được mưa nắng .Sử dụng màng HDPE cho mái đang là biện pháp tối ưu về chi phí và đặt hiệu quả cao do đặc tính của màng HDPE mang lại. Các lớp cấu tạo của mái khác với các lớp cấu tạo của sàn . Đổ bê tông mái cũng tương tự như đổ bê tông sàn , nhưng về mùa hè , khi nhiệt độ lên trên 30độ C, phải đổ bê tông liên tục để đảm bảo tính liên kết của bê tông . Nếu bắt buộc phải ngừng lại, cần chờ bê tông tương đối cứng mới tiếp tục đổ ( sau từ 1 đến 2 ngày ) . Việc đổ bê tông nối tiếp phải thực hiện đúng quy phạm khớp nối bê tông ( khe thi công , mạch thi công )
– Thành phần bê tông mái cần tăng thêm lượng cát và giảm đá dăm so với bê tông thông thường để dễ đổ và đầm hơn . Bê tông mái có độ chặt cao sau khi đầm ( độ sụt bê tông từ 4 đến 5 cm) nên khả năng chịu khí hậu tốt hơn . Bạn có thể trộn vữa bê tông mác 200 để đổ mái với tỷ lệ cấp phối xi măng : 350 Kg, đá dăm 1×2:0,8m3, cát vàng : 0,5m3 nước : 200 lít . Vữa bê tông này sẽ dẻo dễ đổ , dễ dan gạt và đầm do lượng cát nhiều hơn thông thường và đá có giảm đôi chút .
– Sau khi đổ bê tông mái, đầm và gạt mặt xong, chờ cho bê tông bay bớt hơi nước và khô se, tiến hành đầm lại một lần nữa . Khi dùng ngón tay ấn lên mặt bê tông, nếu thấy tạo thành vết lõm ướt là bê tông có thể đầm được . Nếu thấy dính không tạo được viết lóm hoặc nổi nhiều nước tức là còn sớm . Nếu tạo thành vết lõm khô hoặc khó tạo thành vết lõm có nghĩa là bê tông đã se lại , không thể đầm được nữa . Khi trời nắng tốt , thời điểm đầm lại là khoảng 2 giờ sau khi đầm lần đầu, trời râm mát có thể đến 4 giò . Khi nước nổi lên bề mặt , rắc một lớp bột xi măng đều và tất thưa mỏng lên mặt bê tông rồi dùng bàn xoa gỗ ( không dùng bàn xoa thép ) xoa kỹ cho phẳng . Làm như vậy để tạo cho bê tông mái một lớp mặt tốt khó thấm nước . Việc đầm lại có tác dụng tăng cường độ chặt bê tông nên chống thấm tốt , đồng thời tăng cường độ bê tông ở tuổi 28 ngày lên 10-15% . Nhưng chú ý lớp xi măng bột cần rắc thưa và mỏng , nếu lạm dụng dễ gây nứt mặt bê tông, phản tác dụng .
Đổ bê tông đan cầu thang
– Người ta có thể đổ đan thang bê tông cốt thép liền khối hoặc đổ một tấm đan thang phẳng theo độ dốc cầu thang giống như một sàn nghiêng, sau đó xây bậc gạch lên trên . Phải xác định độ dốc hợp lý của bản bê tông cốt thép trước khi ghép cốp pha, đặt cốt thép . Có thể tiến hành bằng cách vạch lên tường thang các vị trí bậc thang sau khi hoàn thiện . Nếu cầu thang không dựa vào tường, cần căng dây xác định trên bức tường gần nhất, ngang với mặt bậc . Khi đổ bê tông cần dùng tấm chắn định hướng để tránh vữa bê tông rơi tự do dồn xuống đáy dốc .
DẦM SÀN VÀ MÁI LÀ NHỮNG THÀNH PHẦN NẰM NGANG, CÓ DIỆN TÍCH DÀN TRẢI, THỜI GIAN ĐỔ BÊ TÔNG LÂU NÊN CŨNG CÓ NHIỀU NGUY CƠ SỰ CỐ, NÊN CHUẨN BỊ MẶT BẰNG, CỐP PHA VÀ CỐT THÉP KỸ LƯỠNG TRƯỚC KHI TIẾN HÀNH .
Màng chống thấm HDPE giá rẻ uy tín chất lượng giao toàn quốc

Quy trình kỹ thuật nuôi Tôm thẻ chân trắng

Trên thế giới, tôm thẻ chân trắng được nuôi nhiều ở các nước Nam Mỹ & Nam Trung Mỹ. Từ những thập niên 1980, 1990, ở Châu Á tôm thẻ đã được thử nghiệm và nuôi thành công ở các nước như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia,… Đất nước Việt Nam chúng ta đang phát triển mạnh mẽ cho đối tượng này, đặc biệt khu vực Miền Trung, đã đóng góp sự thành công cho nghề nuôi tôm.
 
Trong những năm gần đây việc việc sử dụng chưa đúng kỹ thuật, sử dụng tràn lan về hóa chất và kháng sinh đã làm cho môi trường bị thoái hóa, bệnh tật xẩy ra nhiều, làm cho việc nuôi tôm bị gặp nhiều rủi ro và xuất khẩu gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục trình trạng trên, gửi đến Quý bà con nuôi tôm Tài liệu kỹ thuật nuôi tôm thẻ, với hy vọng đóng góp việc nâng cao hiệu quả và kiểm soát thiệt hại trong nuôi tôm.
 
 
 
 
I. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
 
1.     Đặc điểm sinh học tôm thẻ thích nghi với môi trường.
 
Tt
Các chỉ tiêu
Khoảng thích hợp
Khoảng chịu đựng
1
Độ mặn (% o)
15 – 30
0,5 – 45
2
Nhiệt độ
25- 32
16-43
3
pH
7,5 – 8,5
6-10
4
Độ kiềm (mg/lít)
80 -150
60 – 200
5
Oxy hòa tan (mg/lít)
4 – 7
3 -7
6
NH3 (mg/lít)
< 0,1
< 0,2
7
H2S (mg/lít)
< 0,01
< 0,03
 
Bảng thông số kiểm tra:
·         Chúng ta cần phải có lịch trình kiểm tra và quản lý các thông số về môi trường ao tôm.
·         Mức nước nuôi tốt nhất từ 1,2-1,5m
·         Mật độ nuôi từ 80-200 con/m2
·         Đáy ao có cát, cát bùn, đáy cứng sẽ thuận lợi cho tôm phát triển.
 
Tt
Thông số
Thời điểm đo
7 giơ sáng
15 giờ chiều
1
Độ mặn (o/oo)
1 tuần / lần
2
Độ kiềm
3 ngày/ lần
3
Nhiệt độ
X
X
4
pH
X
X
5
Oxy
X
 
6
NH3
 
X
7
Độ trong
 
x
 
2. Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm thẻ chân trắng là loài ăn tạp, có thể ăn loại thức ăn từ gốc động thực vật.
Thức ăn công nghiệp, nhu cầu đạm 20 – 30 % thấp hơn tôm sú 38 %– 40 %, hệ số thức ăn thấp từ 0.9 – 1.2 (thông thường 1.1) so với tôm sú là 1.5 (mật độ thả 100 – 120 con/m2). Tỷ lệ sống 85%.
3. Sinh sản
Trong điều kiện nhân tạo tôm chân trắng có thể thành thục và đẻ trứng.
4. Sinh trưởng
Tôm thẻ chân trắng sinh trưởng thông qua quá trình lột xác, chu kỳ lột xác thông qua từng giai đoạn phát triển, tôm thẻ có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, ở giai đoạn < 20 g/ con, sau 30 ngay tăng trung bình 1-1,4g. Từ 75 – 85 ngày (PL 12), tùy theo mật độ nuôi và điều kiện nuôi có thể đạt kích cỡ 80 – 100 con/kg.
 
II. KỸ THUẬT NUÔI:
1.     Chọn địa điểm
Chọn địa điểm là yếu tố quan trọng quyết định thành công vì ảnh hưởng đến chi phí đầu tư và tính rủi ro trong quá trình nuôi.
Yêu cầu về chọn địa điểm phù hợp:
·         Giá thành xây dựng giảm
·         Giảm chi phí sản xuất
·         Nguồn nước có chất lượng và đầy đủ
·         Có giao thông và nguồn điện để giảm chi phí.
·         Có thông tin liên lạc và an ninh tốt.
a/ Vị trí và chất đất:
·         Chọn vùng đất cát, đất pha cát, nền đất cứng, Ph đất > 6.0.
·         Không chọn vùng bị ngập mặn, sình lầy.vùng nước bị ổ nhiễm, khu vực hay bị lũ lụt.
b/ Nguồn nước cấp:
·         Chọn địa điểm gần nguồn nước có chất lượng tốt, nguồn nước cấp phải có đầy đủ quanh năm để thuận lợi trong việc cấp và thay nước. Tốt nhất có nguồn nước ngọt
·         Không chọn vùng nước bị ổ nhiễm bởi chất thải nông nghiệp và công nghiệp, khu vực hay bị lũ lụt.
2.     Thiết kế và xây dựng ao : Mục tiêu thiết kế ao tốt giúp :
·         Quản lý chất thải tốt, chất thải thường được thu gom tại nơi giữa ao.
·         Thay nước dễ dàng
·         Dễ thu hoạch 
2.1 Thiết kế ao lắng:
a/ Ý nghĩa .
·         Ao lắng để cung cấp nước cho ao trong quá trình nuôi, nhất là những nơi thường chất lượng nước không ổn định hay nguồn nước cấp không liên tục.
·         Ao lắng có vai trò quan trọng giúp phòng ngừa dịch bệnh lây lan vào ao nuôi.
·         Chủ động được nguồn nước cấp, không lệ thuộc vào thủy triều
·         Giảm độc tính của hóa chất sát trùng
                 Vì vậy thiết kế ao lắng là không thể thiếu được
b/ Diện tích ao lắng thường bằng 25 -30 %tổng diện tích ao nuôi.
     2.2 Thiết kế Ao nuôi
     a/ Hình dạng: hình vuông, hình tròn hay hình chủ nhật.
b/ Ao phải tạo được dòng chảy tròn. Đối với ao hình vuông hay chủ nhật để tạo dòng chảy thường đắp bo tròn các góc trong ao. Đáy ao bằng phẳng, tạo độ dốc nghiên về nơi gom chất thải.
c/ Hệ thống cánh quạt:
·         Quạt đặt cách bờ 2,5 – 4 m hay cách chân bờ 1,2 m. Khoảng cách giữa 2 cách quạt là 60 – 80 cm và lắp so le nhau.
·         Tùy theo hình dạng ao mà chọn cách lắp đặt hệ thống quạt tạo ra dòng chảy mạnh nhất và giúp cho chất thải tập trung giữa ao.
·         Số lượng cánh quạt phụ thuộc vào diện tích ao nuôi và mật độ thả nuôi. Thông thường :
     + 6000-7000 con/1 cánh quạt
     + tốc độ quay 60 – 100 vòng/phút
 
Đặt máy sục khí có 2 vai trò cung cấp thêm oxy và tạo ra dòng chảy. Khi tôm lớn, số lượng máy sục cũng tăng theo. Nên chọn vị trí thích hợp để đặt máy để tránh xáo trộn các chất thải đã lắng, dễ quản lý môi trường và chất thải trong ao, thường đặt cách mặt đáy 30 cm.
·         Diện tích ao: 4.000 – 6.000 m2 thuận lợi cho chăm sóc, quản lý, vận hành và cho năng suất cao.
·         Kết cấu hạ tầng giống như ao nuôi tôm sú.
 
3.     Chuẩn bị ao
Chúng ta chia làm 3 loại ao
a/ Ao mới xây : có các bước như sau:
Bước 1: kiểm tra kỹ các bờ ao, bờ ao không được rò rỉ khi lấy nước vào.
Bước 2: san bằng đáy ao, đáy dốc về cống thóat nước hay giữa ao để dễ gom chất thải.
Bước 3: Rữa đáy ao nhiều lần trước khi bón vôi
Bước 4: kiểm tra Ph đáy và dùng vôi bón.
Bước 5: lấy nước vào từ 1.0 – 1.2 m, ngâm 3 – 4 ngày.
Bước 6: bơm hay xả bỏ nước trong ao, phơi đáy 7 -10 ngày trước khi lấy nước vào chuẩn bị để thả tôm.
b/ Ao cũ: có các bước như sau:
Bước 1: Tháo cạn nước
Bước 2: Lấy bớt lớp bùn đáy ao.
Bước 3: Sửa và rữa nền đáy ao bằng phương tiện cơ học.
Bước 4: Bón vôi và phơi nền đáy đến khô khoảng 5 – 7 ngày trước khi lấy nước vào. Nếu có thời gian nên phơi đáy ao 1- 2 tháng để tiêu diệt các mầm bệnh và khoáng hóa đáy ao.
 
 
 
 
Ao bị phèn không nên phơi khô để hạn chế hiện tượng xì phèn.
 
pH đất
Voi CaCO3
(tấn/ha)
Ca(OH)2
(tấn/ha
Voi CaO
(tấn/ha
> 7
0
0
0
6 – 7
1 – 2
0.5 – 1
0.3 – 0.5
5 – 6
2 – 3
1 – 1.5
0.5 – 1
4 – 5
3 – 3,5
1.5 – 2
1 – 1.5
3 – 4
3,5 – 4
2 – 2.5
1.5 – 2
 
c/ Ao bị nhiễm mầm bệnh như đốm trắng đầu vàng, taura,…
     Cần phải cải tạo ao kỹ càng hơn, bắt sạch các loại tôm cá còn sót lại và tiến hành phơi ao 1 tháng.
     Dùng MAX ZU (diệt cua còng) vào buổi sáng để tiêu diệt mầm bệnh trong ao.
     Cách làm : hòa tan MAX ZU theo tỷ lệ 1: 200 ( 100 ml cho 200 lít nước) rồi phun đều khắp đáy ao. Nhớ phun kỹ cả bờ ao, các vùng cống, vùng chân cầu.
Trong trường hợp ao có nhiều hang cua còng, hang sâu : sau 24 giờ phun hóa chất trên, dùng 1 mlMAX ZU trộn với 1 kg cá tươi nướng băm nhỏ rồi đem rải ở miệng hay nhét sâu vào hang có cua còng. Sau đó nhặt hết cua còng ra khỏi ao rồi tiến hành như bước 4 ( ở cải tạo ao cũ ).
d/ Hệ thống rào lưới: nên rào lưới quanh năm để ngăn cản không cho vật chủ trung gian như cua, còng bên ngoài mang vào mang theo mầm bệnh gây thân đỏ đốm trắng đầu vàng, Taura do virus gây ra.
 
4.   Bón vôi
a/ Vôi nông nghiệp như đá vôi hay vôi sò
Chọn vôi mịn chứa hàm lượng trên 75%. Dùng để tăng hệ đệm của nước, có thể dùng số lượng lớn vì không ảnh hưởng đến pH nước. Liều 100 – 300 kg/ ha/ lần.
b/ Đá vôi đen Dolomite CaMg (CO3):
Giúp tăng hệ đệm nước , tăng độ kiềm
c/ Vôi tôi hay vôi ngậm nước Ca(OH)2:
Dùng vôi mịn từ 50 – 100 kg/ ha/ lần. Giúp tăng Ph đáy ao hoặc Ph nước. Loại vôi tôi này làm tăng pH mạnh nên tránh bón vào buổi chiều khi Ph thường cao nhất. 
 
5.     Chuẩn bị nước
Sau bón vôi xong, lấy nước vào qua lưới mịn hay vải kate. Cấp một lần đầy vào ao nuôi trước khi xử lý và gây màu nước.
 
Thời gian
Sản phẩm dùng
Mục dích
Ngày 1
 
Lấy nước đúng như yêu cầu, mở máy đập nước liên tục 3 ngày để trứng các vật chủ trung gian nở thành ấu trùng
Ngày thứ 4
MAX ZU
Diệt cua còng, ghẹ, tôm bạc, tôm đất, tép con,… mang mầm bệnh.
Sau 20 ngày dùng MAX ZU mới thả tôm.
Ngày thứ 8
SAPONIN
Ngâm saponin 12 giờ trước khi sử dụng, 10 kg/ 1000 m3 nước, tạt đều khắp ao, mở máy quạt.
Vớt cá chết ra.
Ngày thứ 14
Chọn 1 trong 3: WUNMID,
DOHA-Iodin 6000,
BIOXIDO 150
Sát trùng nước, để tiêu diệt mầm bệnh. Nên mở máy quạt nước. Sau 24 giờ có thể tiền hành gây màu nước và cấy vi sinh.
 
6.     Gây màu nước:
+ Kiểm tra điều chỉnh tốt các thông số sau trước khi gây màu nước:
·         Ph nước ao : 7.8 – 8.0
·         Độ kiềm: > 60 mg/lít
·         Mở máy quạt nước liên tục vào ban ngày
+ Gây màu nước giúp phát triển phiêu sinh thực vật, tảo và phiêu sinh động vật: dùng 1 lítDOZYMER cho 1600 m3 – 2500 m3 nước có thể kết hợp thêm PREMIX 100 hay MIX 500 với 1 kg/ 1000 m3
 + Cấy vi sinh có lợi sau khi sát trùng để ổn định hệ sinh thái, ổn định chất lượng nước và Ph bằng chế phẩm sinh học VI SINH ONE  1 kg/ 1000- 2000 m3, có thể kết hợp thêm VS- STAR với 1 lít/ ha.
7. Chọn giống & Thả giống:
a.Chọn tôm giống
Mua giống những nơi có uy tín, có chứng nhận xuất xứ nguồn gốc
Chọn giống đồng đều kích cỡ, giống có màu sắc sáng đẹp
Tôm giống thả đạt Post 12 trở lên.
b. Thả giống
Trước khi thả giống phải kiểm tra chất lượng con giống. Tôm giống đđạt chất lượng không mang mầm bệnh như: đđốm trắng, đỏ thân, taura,…
Do thời gian nuôi ngắn 2,5 – 3 tháng, kích cỡ thu họach từ 80 – 100 con/kg. Nên để nuôi hiệu quả thường thả mật độ 100 – 200 con/m2. Mật độ thả tùy thuộc vào các yếu tố sau:
o   Nguồn nước và điều kiện môi trường tự nhiên tại vùng nuôi.
o   Khả năng đầu tư
o   Thiết kế ao
o   Những biến đổi theo mùa và khí hậu thời tiết
o   Kinh nghiệm quản lý
 
8.Thức ăn và quản lý thức ăn.
Để giảm chi phí nên chọn thức ăn có hệ số thấp và độ đạm thấp hớn 35%.
Cách xác định thức ăn hằng ngày :
Tổng trọng lượng = trọng lượng trung bình x số tôm thực tế trên cơ sở lượng giống thả và ước lượng tỷ lệ sống theo thời gian.       
– Tổng trọng lượng trung bình và tổng trọng lượng tôm xác định được lượng thức ăn hằng ngày. Trong tình trạng bình thường tôm cỡ 1 – 5 g cho ăn 7- 10 % trọng lượng thân.; tôm 5 – 10 g cho ăn 4 – 7% trọng lượng thân; tôm 10 – 20 g cho ăn 3 – 4% trọng lượng thân.
Tôm thẻ có tập tính kiếm ăn vào ban đêm là chủ yếu. Trong nuôi nhân tạo tôm ăn thường xuyên cả ngày lẫn đêm. Khi tôm giai đoạn 2 tháng trở lên, môi trường ao bị ô nhiễm, lượng oxy hòa tan thấp, do đó giai đọan này chúng ta nên cho ăn vào ban ngày , ban đêm chỉ cho ăn 1 lần hoặc ngừng hẵn.
Quản lý thức ăn:
Có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nuôi. Quản lý tốt làm giảm chi phí, chất lượng nước, đáy ao sạch và hạn chế dịch bệnh. Chúng ta cần làm những việc như sau:
·         Giai đoạn tôm 10 ngày nên thả tôm vào sàng để làm quen
·         Bỏ thức ăn trong sàng nên căn cứ vào trọng lượng tôm và kiểm tra sàng chặt chẽ.
                                                Lượng thức ăn trong ngày x % thức ăn trong sàng
Lượng thức ăn trong sàng =
                                                                          Số lượng sàng
·         Việc chuyển đổi mã số thức ăn nên căn cứ vào trọng lượng để làm tiêu chuẩn theo bảng, không dựa vào tuổi tôm ( ngày tuổi). Trong thời gian chuẫn bị chuyển đổi nên trộn lẫn 2 loại thức ăn cho ăn ít nhất 3 ngày.
·         Tôm 30 – 75 ngày tốc độ phát triển khá nhanh vì vậy ta có thể tăng số lần thức ăn trong ngày (5 lần/ngày) và tăng lượng thức ăn để rút ngắn thời gian nuôi.
·         Khi tôm được 30 ngày tuổi, 5 – 7 ngày kiểm tra tốc độ tăng trường 1 lần.
·         Xác định được chính xác số lượng và trọng lượng tôm trong ao.
·         Theo dõi cường độ bắt mồi hàng ngày và mỗi cữ cho ăn để điều chỉnh phù hợp.
·         Theo dõi tiến độ lột xác để giảm lượng thức ăn trong giai đoạn lột xác và tăng sau khi tôm lột vỏ.
·         Theo dõi sự biến động thời tiết và môi trường nuôi vì chúng ảnh hưởng đến sức khỏe tôm, nên ta điều chỉnh tăng giảm thức ăn cho phù hợp.
    
9. Hậu quả chất lượng nước kém:
·         Không thay nước trong thời gian dài.
·         Sau cơn mưa làm tăng độ đục nước và ph nước cao.
·         Sau thời gian nắng yếu làm giảm cường độ quang hợp của tảo dẫn đến lượng oxy hoa tan thấp.
·         Nền đáy ao xấu.
·         Sau khi phiêu sinh vật bị suy tàn làm oxy hòa tan giảm và có nhiều chất thải phân hủy bở xác tảo.
Khi chất lượng nước suy thoái làm giảm khả năng bắt mồi, sức ăn yếu, chậm lớn và dễ bị bệnh. Gây ra các bệnh như mang có màu sắc bất thường, vỏ bẩn, phồng đuôi và phụ bộ tổn thường,…
 
10. Quản lý chất lượng nước:
Nước là môi trường sống của tôm. Quản lý chất lượng nước là cần thiết để tôm phát triển, ngăn ngừa dịch bệnh,..
a.     Chất lượng đáy ao
Đáy ao dơ bẫn làm ảnh hưởng đến Ph, độ kiềm, oxy hòa tan, khí độc , sinh vật đáy, tảo và xuất hiện các bệnh như vàng mang, đen mang, đóng rong,..
Quản lý đáy ao tốt là quản lý ngay từ khâu cải tạo. Trong nuôi tôm đáy ao được làm sạch bằng các biện pháp sau:
+ Dùng VI SINH ONE hoặc BACBIOZEO hoặc AQUA BIO BZT theo định kỳ
+ Quản lý thức ăn tốt, tránh dư thừa
+ Quản lý tảo bằng sản phẩm BKC 8000, không được để cho tảo tàn
b. Oån định tảo và vi sinh vật
+ Tảo phát triển quá mức : dùng BKC 8000 để hạn chế.
+ Tảo phát triển kém : thay 20 – 30% nước , cung cấp dinh dưỡng cho tảo phát triển. DùngPREMIX 100 hoặc MIRAMIX No: 8 hoặc DOZYMER liên tục 1 – 3 ngày .
+ Trong trường hợp ao quá khó gây màu : Dùng trước X – WATER liều 250 g/ 1600 m3  nước , sau đó dùng kết hợp PREMIX 100 liều 1 kg/ 1000 m3  nước và DOZYMER liều 1 lít/ 1600 m3 nước , dùng liên tục 1 – 3 ngày
+ Tảo tàn : dùng BACBIOZEO liều 5 kg/ 1000 m3  nước để lắng kết
 
Quản lý tảo là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng nước tốt hay xấu. Vì vậy phải thường xuyên theo dỏi sự phát triển của tảo để có biện pháp xử lý .
c.    Quản lý sự cân bằng và ổn định các yếu tố thủy lý hóa.
 
Nếu ta quản lý ổn định hệ tảo và vi sinh và đáy ao thì các yếu tố Ph, NH3, H2S, độ kiềm cũng sẽ ổn định theo. Khi thay đổi thời tiết và mất cần bằng sinh học trong ao sẽ làm cho các yếu tố này thay đổi.
Mức thích nghi như sau:
·         Ph thích hợp : 7,5 – 8,5
·         Độ mặn thích hợp : 15 – 30%0
·         NH3 < 0,1 mg/Lít.
·         H2S < 0,01 mg/Lít
·         Độ kiềm : 80 – 1220 mg/lít
·         Oxy hòa tan : > 4 mg/ lít
11.   Bổ sung dinh dưỡng, khoáng chất và vitamin
 
·         Bổ sung chất tăng hệ miễn dịch, phòng bệnh do virus : MUNOMAN 3- 5 g/ kg thức ăn, cho ăn 1 lần/ngày, dùng liên tục.
·         Bổ sung men đường ruột để giúp tiêu hóa tốt, giảm lượng phân thải ra : BIOTICBEST  5 g/ kg thức ăn hoặc BIO AV 5 ml / kg thức ăn
·         Bổ sung vitamin, khoáng vi lượng: VITASOL C + E hoặc C MIX 25% liều 5- 10 g/ kg thức ăn, CALCIPHORUS liều 5 ml / kg thức ăn, PROCOM liều 5 g / kg thức ăn
·         Tăng cường chức năng gan tụy, phòng các bệnh về gan: HEPAVIROL  liều 5 ml / kg thức ăn, SANSORIN liều 10 g / kg thức ăn
12.   Phương pháp quản lý môi trường:
·         Nên thay nước khi các yếu tố thủy hóa trong ao nằm trong khoảng không thích hợp. Đặc biệt khi ph dao động trong ngày lớn hơn 0,5
·         Cần tăng cường độ sâu mực nước trong ao theo thời gian từ 1,0 – 1,4 m nhằm ổn định môi trường, tạo độ thông thoáng cho tôm di chuyển trong ao, hạn chế sự phát triển thực vật của đáy ao.
·         Đối với những ao độ kiềm thấp hơn 60 mg/lít nên sử dụng thường xuyên các vôi nông nghiệp liều 15 – 20 kg, 7 – 10 ngày/ lần hoặc dùng SD SUPER ALKLINE .Đặc biệt những ngày có mưa , thời tiết thay đổi cần tăng cường sử dụng.
·         Ao có tảo phát triển chậm, độ trong cao : Dùng PREMIX 100 hoặc MIRAMIX No: 8 hoặcDOZYMER liên tục 1 – 3 ngày
·         Ao có tảo phát triển quá mạnh, ph tăng cao vào buổi chiều, trước tiên nên thay nước tối thiểu 30% , sau đó dùng đường cát 2 – 3 kg / 1000 m2, hòa tan tạt đều ao vào lúc 9 – 10 giờ sáng và mở máy quạt, sục khí.
·         Dùng chế phẩm sinh học VI SINH ONEhoặc AQUA BIO BZT hoặc kết hợp thêm VS STARtheo định kỳ trong suốt vụ nuôi để làm sạch nước, màu nước đẹp, phân hủy các chất hữu cơ, chất thải thức ăn, phân tôm, kìm hãm khí độc NH3, H2S,..
  
III. GIẢI PHÁP PHÒNG & TRỊ BỆNH Ở TÔM
 
1  BỆNH ĐƯỜNG RUỘT
Nguyên nhân: Do vi khuẩn đường ruột gây ra, phát sinh trong ao do ao bị ô nhiễm
Triệu chứng:Tôm giảm ăn, chậm lớn, đường ruột đứt khúc, không đầy. Cần phải điều trị nếu không tỷ lệ sống tôm giảm.
+ Phòng bệnh: Dùng thường xuyên BIOTICBEST hoặc BIO AV hoặc SAN ZYM cho ăn 2- 3 g/kg thức ăn, 2 lần/ngày
     + Trị bệnh: Dùng TRIMDOX For shrimp, liên tục trong 3- 5 ngày. Kết hợp xử lý diệt khuẩn ao bằng BIOXIDO 150 liều 1 lít / 2000 m3  nước
 
2  BỆNH TAURA
Bệnh này xuất hiện lần đầu ở vùng Ecuado vào 1992. Việt Nam chủ yếu nhập giống thẻ từ Trung Quốc, Đài Loan năm 1999. Đến năm 2001 đã xuất hiện tại hải phòng, nam định, đặc biệt năm 2008 , 2009 dịch bệnh chết hàng lọat tại các tỉnh Quang Ngãi, Quảng Nam, Quảng Bình.
Nguyên nhân: Do một loại virut hình sợi Rna, bệnh thường xuất hiện ở giai đoạn tôm từ 14 – 40 ngày tuổi.
·         Do virus Taura gây ra, Virus tồn tại trong nước khoảng 2 tuần.
·         Vi khuẩn cũng là tác nhân gây ra Taura
·         Nguồn tôm bố mẹ nhập từ nước ngoài
·         Giáp xác
·         Từ nguồn nước, chim, cò, rắn,…
·         Dụng cụ dùng trong trại
Triệu chứng: Dấu hiệu thấy rỏ nhất khi tôm ở giai đoạn cấp tính và chuyển tiếp là yếu, lờ đờ , đuôi phòng chuyển màu đỏ và hoại tử nên ngư dân gọi là bệnh đỏ đuôi. Tỷ lệ chết liên quan dến quá trình lột vỏ.
Phòng bệnh : là chủ yếu, hiện nay trên thế giới chưa có thuốc chữa.
·         Xử lý nước ao lắng, ao nuôi để diệt khuẩn, virus bằng thuốc sát trùng như: BIOXIDO 150, BKC 8000, DOHA Iodin 6000, MKC 1000,…
·         Làm sạch môi trường, sạch đáy ao, khử khí độc bằng chế phẩm sinh học như VI SINH ONE, AQUA BIO BZT, OCAMEN, VS –STAR.
·         Bổ sung dinh dưỡng để tăng sức đề kháng, giữ cho tôm luôn khỏe mạnh:
VITASOL C+ E, C MIX 25%, CALCIPHORUS, PROCOM, SAN ONE
·         Bổ sung chất tăng hệ miễn dịch: MUNOMAN
·         Bổ sung men tiêu hóa BIOTICBEST hoặc BIO AVhoặc SAN ZYM cho ăn 2- 3 g/kg thức ăn, 2 lần/ngày
 
 
3  BỆNH MÒN ĐUÔI, CỤT RÂU, ĐỐM ĐEN:
     Nguyên nhân:
Do ao nuôi có vi khuẩn và vi nấm gây ra, đáy ao dơ, bị ô nhiễm. Nuôi mật độ dày.
Triệu chứng:
Tôm bị cụt râu, đuôi tôm sưng phồng và có mủ , chân và phụ bộ bị thối gãy. Tôm bỏ ăn, yếu dần và dễ bị ăn thịt lẫn nhau.
+ Phòng bệnh: dùng DOHA Iodin 6000 liều 1 lít/ 6.000 m3  nước .
+ Trị bệnh: DOHA Iodin 6000 liều 1 lít/ 3.000 m3  nước, sau 48 giờ dùng thêm AQUA BIO BZT
 
4  BỆNH VỀ MANG:
     Nguyên nhân: Thường gặp ở ao có chất lượng nước và đáy kém
Triệu chứng: Mang tôm có màu nâu hoặc đen. Tôm có triệu chứng khó thở, dễ bị nổi đầu. Bệnh nặng thì mang bị vi khuẩn, nấm hoặc nguyên sinh động vật ký sinh phá hủy. Bệnh này làm tôm giảm ăn, chậm lớn. Dễ bị các tác nhân khác tấn công.
+ Phòng bệnh: cải tạo ao sạch trước khi thả giống, ao lắng xử lý kỹ càng. Dùng OCAMEN- Deodorants  liều 300 g/ 1.000 m3  nước, 10 ngày/ lần.
     + Trị bệnh: OCAMEN- Deodorants liều 500 g– 1kg/ 1.000 m3  nước, 5 ngày/ lần. Kết hợp trộn VITASOL C+ E liều 5 g/ kg thức ăn ( hoặc dùng C MIX 25%) cho ăn thường xuyên để tăng hiệu quả phòng trị.
 
5* BỆNH MỀM VỎ
 Nguyên nhân: do thiếu thức ăn trong thời gian dài, thiếu khoang chất, mật độ nuôi dày
 Triệu chứng:vỏ tôm mềm, cơ thể có màu đỏ tia mang có màu đỏ hoặc trắng.
 Phòng & trị bệnh :Bổ sung khoáng chất và Vitamin C
– Dùng trộn: CALCIPHORUS kết hợp trộn thêm C MIX 25% hoặc VITASOL C + E
– Dùng tạt : PREMIX 100 hay HI CAPHO + C . 

Muốn nuôi tôm tốt, tôm giống phải tốt

Nguồn: (Thủy sản Việt Nam)

Đó là điều kiện đầu tiên và quan trọng trong nuôi tôm hiện nay. Bởi chỉ có quản lý được chất lượng con giống tốt thì mới đảm bảo cho việc sản xuất tôm sạch và tạo dựng thương hiệu tôm Việt.

Quản lý chặt chẽ

Vấn đề chất lượng con giống không phải là chuyện “ngày một ngày hai” ở nước ta mà kéo dài từ rất lâu. Trong khi nuôi trồng thủy sản phát triển, đặc biệt là phong trào nuôi tôm thẻ chân trắng bùng phát một cách nhanh chóng nhu cầu con giống sẽ theo đó mà tăng cao. Điều này dẫn tới việc mất kiểm soát trong chất lượng con giống bởi những cơ sở sản xuất, kinh doanh không uy tín, không đảm bảo chất lượng mà chỉ hòng chuộc lợi. Cùng đó, là những khó khăn do phụ thuộc vào nguồn giống phải nhập khẩu từ nước ngoài.

Chất lượng con giống luôn được chú trọng - Ảnh: PTC

Chất lượng con giống luôn được chú trọng – Ảnh: PTC

Tính đến tháng 9/2016, Tổng cục Thủy sản đã tiến hành kiểm tra tổng số lượng TTCT bố mẹ nhập khẩu đạt 138.239 con của 115 cơ sở nhập khẩu trên cả nước. Đứng trước những lo ngại trên, Bộ NN&PTNT cũng như Tổng cục thủy sản đã xác định được vấn đề quan trọng của việc quản lý chất lượng con giống là vấn đề cốt lõi cho ngành thủy sản. Từ đó, các quy định về quản lý giống thủy sản được ban hành để từng bước giải quyết khó khăn và kiểm soát được con giống ở nước ta. Trong đó phải kể đến Thông tư số 26/2013/TT-BNNPTNT về quản lý giống thủy sản (GTS) do Bộ NN&PTNT ban hành ngày 22/5/2013; Nghị định 119/2013/NĐ-CP ngày 9/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y, giống vật nuôi và thức ăn chăn nuôi; Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT ngày 03/12/2014 của Bộ NN& PTNT quy định việc kiểm tra cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và kiểm tra chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thuỷ sản đủ điều kiện ATTP. Nhờ đó mà vấn đề về con giống được quan tâm nhiều hơn và quản lý được tốt hơn.

Hay như mới đây, ngày 7/10/2016, Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số 4088/QĐ-BNN-TY về Kế hoạch giám sát chuỗi sản xuất tôm bảo đảm an toàn dịch bệnh phục vụ xuất khẩu. Thông qua đó, để UBND các tỉnh trọng điểm về sản xuất tôm giống và tôm thương phẩm ban hành kế hoạch, bố trí kinh phí và chỉ đạo triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh để tạo ra các vùng có nguy cơ thấp về dịch bệnh tôm, các cơ sở nuôi tôm có chuỗi sản xuất bảo đảm an toàn dịch bệnh. Kết thúc năm 2017, có ít nhất 10% số cơ sở sản xuất tôm giống có quy mô sản xuất mỗi năm trên 1 tỷ tôm post đăng ký chứng nhận cơ sở an toàn dịch bệnh theo quy định tại Thông tư số 14/2016/TT-BNNPTNT ngày 2/6/2016 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT quy định về vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật.

Như vậy có thể thấy rằng, việc kiểm tra, kiểm soát con giống đang ngày càng được quản lý tốt hơn và tạo dựng cơ sở để phát triển ngành thủy sản nước ta.

Giải quyết tồn tại

Tuy được siết chặt quản lý, nhưng theo các ngành chức năng, cũng có một số cơ sở sản xuất tôm giống vẫn “lộng hành” sản xuất tôm giống không đảm bảo chất lượng, gây nguy hại cho người nuôi. Mới đây, Bộ NN& PTNT chỉ đạo các đơn vị chức năng phối hợp với Cục An ninh Kinh tế Nông, Lâm, Ngư nghiệp thuộc Bộ Công an tiến hành thanh tra đột xuất tại 5 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Phú Yên gồm: Cơ sở sản xuất giống tôm Nhã; Cở sở tôm giống Hữu Thận; Cơ sở sản xuất giống Úc Việt; Cơ sở sản xuất giống Văn Khanh; Cơ sở  sản xuất giống Trọng Huỳnh. Kết quả kiểm tra cho thấy, tại thời điểm thanh tra 5/5 cơ sở không cung cấp được các giấy tờ liên quan như: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Biên bản kiểm tra điều kiện cơ sở sản xuất giống thủy sản, hồ sơ giấy tờ liên quan đến hoạt động kiểm dịch đối với tôm giống bố mẹ và các giấy tờ hồ sơ khác có liên quan; 5/5 các cơ sở chưa được kiểm tra, đánh giá phân loại theo Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT; không thực hiện ghi chép hồ sơ và công bố chất lượng tôm giống theo quy định tại Thông tư số 26/2013/TT-BNNPTNT; Đặc biệt, các cơ sở sử dụng tôm bố mẹ tôm thẻ chân trắng không rõ nguồn gốc, tôm từ ao nuôi thương phẩm, không đảm bảo chất lượng cho sản xuất giống cung cấp Nauplius và tôm giống ra thị trường.

Được biết, trong quá trình kiểm tra Tổng cục Thủy sản gặp khá nhiều khó khăn như việc xác minh địa chỉ của một số công ty gặp nhiều khó khăn do địa chỉ, số điện thoại không có hoặc không rõ ràng; một số đối tượng bị thanh tra đã có biểu hiện trốn tránh và chống đối… Gặp những khó khăn này, không thể không nói rằng, trách nhiệm một phần là ở Chi cục Thủy sản và Chi cục Chăn nuôi Thú y địa phương chưa quan tâm đúng mức đến việc kiểm tra, thanh tra, kiểm soát nguồn gốc xuất xứ, chất lượng và kiểm dịch đàn tôm thẻ chân trắng bố mẹ theo quy định.

 

Thanh tra, kiểm soát chất lượng con giống mang lại những động thái tích cực cho ngành thủy sản nước ta. Tuy nhiên, để có thể đảm bảo được việc thực hiện nghiêm túc và quy trình kiểm soát chặt chẽ  trong quản lý con giống đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của toàn ngành.

Lợi nhuận kép từ nuôi ghép

Nguồn: (Thủy sản Việt Nam)

Qua 3 năm triển khai các mô hình nuôi ghép tôm sú với cá dìa, tôm sú với cá đối do Trung tâm Khuyến nông Quảng Ngãi thực hiện, đến nay, mô hình đã cho hiệu quả kinh tế nhất định thông qua lợi nhuận mang lại.

Đa dạng loài nuôi

Điển hình là mô hình nuôi ghép tôm sú với cá đối tại hộ anh Bùi Min, trú tại thôn Xuân An xã Tịnh Hòa (TP Quảng Ngãi), với diện tích 2.400 m2. Anh Min thả 28.800 con tôm sú, cỡ 2 – 3 cm/con (mật độ 12 con/m2) và 2.400 con cá đối, cỡ 6 cm/con (mật độ 1 con/m2); ngân sách tỉnh hỗ trợ 100% tiền giống, 30% chi phí thức ăn và hóa chất. Sau 4 tháng thực hiện, nhờ tuân thủ quy trình kỹ thuật nuôi, mô hình đạt được các chỉ tiêu theo phương án đề ra. Sản lượng tôm sú 483 kg, với giá 220.000 đồng/kg, thu trên 106 triệu đồng; sản lượng cá đối (dự kiến) 360 kg, với giá 100.000 đồng/kg, thu trên 36 triệu đồng. Tổng thu dự kiến trên 142 triệu đồng, sau khi trừ chi phí lãi trên 56 triệu đồng.

Là người nuôi tôm sú ghép cá dìa vài năm trở lại đây, ông Ngô Văn Tuất ở xã Tịnh Khê (TP Quảng Ngãi) cho biết, ông cùng hơn 20 hộ dân trong xã đã áp dụng mô hình này vài năm nay, riêng gia đình ông với diện tích 1.000 m2 ao mỗi năm thu về gần 100 triệu đồng. Ưu điểm của việc nuôi ghép là ít bị rủi ro về dịch bệnh và hiệu quả kinh tế cao hơn.

Qua nghiên cứu của các nhà khoa học và nhà chuyên môn cho thấy, với đặc tính ăn tạp, cá dìa và cá đối sử dụng triệt để lượng mùn bã hữu cơ ở đáy ao như phân tôm, thức ăn dư thừa của tôm, tảo tàn… cân bằng được hệ sinh thái trong ao nuôi, tạo nền đáy ao tốt, giúp tôm sinh trưởng, phát triển nhanh hơn, hạn chế được dịch bệnh. Hơn nữa, khi nuôi ghép với tôm sú, tôm sống ở tầng mặt, còn cá dìa, cá đối sống ở tầng đáy nên tôm sú vẫn phát triển tốt. Với một diện tích mà người nuôi tôm có thể nuôi kết hợp hai loại thủy sản, vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa tiết kiệm chi phí vệ sinh hồ.

Mô hình nuôi kép tại Quảng ngãi

Mô hình nuôi ghét tôm sú với cá đối đang là hướng đi hiệu quả tại Quảng Ngãi

Hướng đi mới

Hiện nay nuôi ghép tôm với cá dìa trong ao là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường nhờ nuôi tôm với mật độ thấp, phá thế độc canh nuôi tôm, giảm rủi ro trong sản xuất.

Kinh nghiệm của những hộ nuôi cho thấy, ao nuôi cần cải tạo cho đáy bằng phẳng, độ dốc từ cống tưới đến đáy cuối ao 2%, độ sâu 1,5 – 2 m, mực nước trong ao trung bình 1 – 1,5 m. Trước khi thả nuôi cần cải tạo, diệt tạp, gây màu… Cần chọn nơi cung cấp con giống có uy tín, quan sát hoạt động và hình thể bên ngoài để có thể chọn được con giống tốt. Thường tôm khỏe có gai (chùy) phía trên, đuôi xòe, khi bơi 2 ăng ten đóng mở thành hình chữ V; Thân hình không dị hình gẫy khúc, co thắt, vẹo thân, tôm phải bơi theo chiều ngược dòng nước (nếu có dòng chảy), tôm đều con, màu sắc sáng bóng… Nên chọn giống ương 4 – 6 cm hoặc 2 – 3 cm để thả. Trong quá trình nuôi cần chăm sóc và quản lý ao nuôi cho tốt, biết cách phòng bệnh cho các đối tượng nuôi.

Để việc nuôi được thuận lợi, nếu cá giống lớn, mật độ thả ghép thưa khoảng 1 con/m2, sau 4 – 5 tháng nuôi cùng tôm, cá dìa có thể cho thu hoạch 0,8 – 1 tấn/ha, tỷ lệ sống 60% trở lên, lợi nhuận 70 – 80 triệu đồng/ha. Quan trọng hơn, khi nuôi ghép với tôm sú, tôm vẫn phát triển tốt, ít dịch bệnh, giảm được chi phí thuốc và hóa chất trong quá trình nuôi. Cùng đó, cá dìa là có thể nuôi ngay trong ao tôm bị dịch bệnh và sẽ tiêu diệt các mầm bệnh tồn lưu trong ao tôm. Nông dân có thể thả cá với mật độ 2 – 3 con/ m2, sử dụng thức ăn tự chế hoặc cám công nghiệp; sau 10 – 12 tháng nuôi, cá có thể đạt trọng lượng 0,6 – 1 kg/con, tỷ lệ sống cao.

Lưu ý, sau 110 – 120 ngày nuôi, tôm có thể đạt cỡ trung bình 25 – 30 g/con, cá đạt trọng lượng 150 – 200 g/con thì tiến hành thu hoạch. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi nếu phát hiện tôm bị bệnh mà đã đạt cỡ 15 – 20 g/con thì thu hoạch tôm trước. Có thể thu tôm và cá cùng lúc hoặc thu hoạch tôm trước, cá sau. Cá trước khi thu hoạch cần phải ngừng cho ăn ít nhất 1 – 2 ngày.

 

Ông Ngô Hữu Hạ, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quảng Ngãi: Việc thực hiện mô hình nuôi ghép tôm sú với cá nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi thủy sản, góp phần thay đổi cách nuôi, thay thế độc canh con tôm, cải thiện môi trường ao nuôi…

Nuôi tôm…trong nhà

Nguồn: Báo Quảng Nam

Trong bối cảnh nuôi tôm nước lợ thất bát thì thành công của mô hình nuôi tôm sạch của ông Trần Công Thành đã gợi mở về hướng đi mới đối với nghề này.

Nuôi tôm… trong nhà

Nuôi tôm trong nhà kính của ông Trần Công Thành.Ảnh: N.Q.V

Tạo môi trường sống đặc biệt cho tôm

Mới đây, ông Trần Công Thành đưa vào sử dụng khu nuôi tôm trong nhà kính có tổng diện tích 1.000m2 với 4 ao nuôi ở thôn Hòa An (xã Tam Hòa, Núi Thành). Đây là mô hình đầu tiên và duy nhất đến thời điểm này ở Quảng Nam. Ông Thành cho biết, phương châm là chậm mà chắc nên ban đầu thử nghiệm ương nuôi tôm giống trong nhà kính trước rồi mới bố trí thâm canh nuôi tôm thương phẩm khi đến thời điểm thích hợp. Ông Thành bố trí ương tôm giống trong nhà kính, từ post 10 (1.500 con thì được 1kg tôm giống) cho đến khi tôm lớn bằng chiếc đũa thì bố trí nuôi tôm thương phẩm ở 3 khu vực. Thời gian cho công đoạn này tốn khoảng 20 ngày. “Tôm nuôi, đặc biệt là tôm giống rất nhạy cảm với mọi biến đổi, biến động của môi trường sống. Để tạo điều kiện tốt nhất cho tôm giống phát triển, tôi đầu tư 1 tỷ đồng để xây hẳn khu nuôi tôm trong nhà kính, tách biệt hoàn toàn với bên ngoài. Ở khu nuôi tôm trong nhà kính, chỉ có tôi và đội ngũ kỹ thuật nuôi tôm mới được vào. Vì cô lập với không gian bên ngoài nên tránh được mầm bệnh” – ông Thành mô tả về khu nuôi tôm của mình.

Sau 2 tháng triển khai ương tôm giống trong nhà kính, tôm phát triển rất tốt khi được thả trong ao nuôi thương phẩm. “Khi tôm giống có hình thể bằng chiếc đũa thì đã định hình quá trình sinh trưởng rất vững chắc rồi. Để có được điều đó thì ương nuôi trong nhà kính bắt buộc phải theo quy trình chặt chẽ, trong đó phải quản lý mọi điều kiện nguồn nước” – ông Thành cho biết. Ưu điểm nổi bật của hệ thống ương nuôi tôm giống trong nhà kính tại cơ sở của ông Thành là người nuôi chủ động trong mọi phương án nuôi tôm. Theo ông Thành, có thể tạo riêng một tiểu vùng khí hậu hoặc một tiểu vùng sinh học phù hợp nhất cho quá trình phát triển của tôm nuôi. Ông dự kiến sẽ nuôi tôm thương phẩm trong nhà kính trong thời gian ngắn tới, và sẽ mở rộng lên đến 10ha.

Nuôi an toàn

Ông Trần Công Thành là không sử dụng hóa chất, kháng sinh trong nuôi tôm. “Hầu như bất kỳ ai nuôi tôm cũng đều phải sử dụng kháng sinh và hóa chất. Sinh vật khi bị bệnh đều phải dùng kháng sinh để vượt qua giai đoạn hiểm nghèo, tôm nuôi cũng vậy. Muốn tránh điều đó chỉ có cách duy nhất là đảm bảo cho chúng khỏe, không phát sinh tình huống xấu” ¬ ông Thành nói. Để làm được điều đó, sau khi đảm bảo tôm giống sinh trưởng tốt nhất trong nhà kính, ở quá trình nuôi tôm thương phẩm, ông Thành bố trí hẳn 3 khu vực nuôi tôm với mỗi khu có tổng cộng 9 ao, trong đó ông dùng 1 ao để xử lý chất thải, 3 ao để chứa lắng, xử lý nguồn nước, 5 ao còn lại dùng để thâm canh nuôi tôm thương phẩm. Nguồn nước được xử lý qua 3 giai đoạn ở mỗi ao. Trước hết là dung hòa nước biển và nước ngầm, đảm bảo độ mặn cho vào ao rồi xử lý bước 1 bằng thuốc tím, sau đó xử lý bằng chất loãng và hữu cơ. Nghỉ vài ngày, ông Thành cho nguồn nước đó vào ao thứ 2, xử lý bước 2 bằng chlorin với liều lượng 10 ¬ 20 ppm diệt tất cả loài động vật địch hại tôm nuôi. Sau quá trình tạm nghỉ, nguồn nước này được đưa vào ao thứ 3 để xử lý, cuối cùng bằng chế phẩm sinh học, men vi sinh. Sau khi xử lý nguồn nước sạch, ông Thành thả tôm nuôi thương phẩm với mật độ từ 200 con/m2 . Nuôi tôm sạch giúp cho ông Thành nâng năng suất lên đến 40 tấn/ha. Theo ông Trần Công Thành, trong quá trình nuôi tôm, thường xuyên sử dụng men vi sinh CP Zymetim, Supe VS để trộn vào thức ăn, kích thích quá trình tiêu hóa, hấp thụ dinh dưỡng cho tôm nuôi. Trong xử lý nguồn nước, sử dụng men vi sinh CP Bio Plus, SupeVS để ổn định môi trường nước ao nuôi tôm. Men vi sinh BioWish 3PS và chế phẩm sinh học BioWish AquaFarm cũng có thể được trộn vào thức ăn với liều lượng vừa đủ để thúc đẩy quá trình sinh trưởng của tôm nuôi. Chi phí thức ăn giảm, cụ thể hệ số thức ăn giảm dưới 1.1 trong khi nuôi tôm thông thường có hệ số thức ăn lên đến 1.5. Trong quá trình nuôi, chất hữu cơ trong nước và chất thải ở đáy ao nuôi được phân hủy tốt. Hệ vi sinh vật có lợi được bổ sung và tăng dinh dưỡng trong môi trường ao nuôi giúp tôm tăng khả năng kháng bệnh và tiêu hóa thức ăn tốt hơn.

>>Để có điều kiện phát triển vùng nuôi tôm sạch, việc điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được xem là kim chỉ nam để triển khai, bởi hàng loạt giải pháp và cơ chế đang được ngành thủy sản tham mưu UBND tỉnh xây dựng và ban hành. Theo Sở NN&PTNT, điều cốt lõi nhất là xây dựng vùng nuôi thủy sản tập trung để nuôi tôm sạch. Vấn đề là rất khó để áp dụng điều này bởi quỹ đất của các hộ nuôi tôm rất phân tán mà nuôi tôm sạch thì bắt buộc phải tập trung thành quỹ đất rộng lớn, không chỉ nuôi tôm thương phẩm mà còn dành diện tích đất để xử lý chất thải và nhiều công đoạn xử lý nước ao nuôi. Chưa nói đến quy trình nuôi thế nào và cách thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ của nông hộ ra sao thì ngay vấn đề đầu tiên là quỹ đất đã rất khó thực hiện.
NGUYỄN QUANG VIỆT
Theo Báo Quảng Nam

Nuôi trồng thủy sản: Tập trung phát triển các mô hình mới

Nguồn: Báo Phú Yên

Thời gian qua, Phú Yên chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, qua đó triển khai một số mô hình mang lại hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, việc làm này chưa tạo được bước đột phá lớn.

Nuôi trồng thủy sản: Tập trung phát triển các mô hình mới

Mô hình nuôi hàu thương phẩm ở TX Sông Cầu – Ảnh: ANH NGỌC

Nhiều mô hình hiệu quả

Theo Sở NN-PTNT, thời gian qua, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được tỉnh quan tâm, vì đây là hướng phát triển nhằm nâng cao giá trị gia tăng và bền vững. Riêng lĩnh vực thủy sản có nhiều mô hình thành công, như: nuôi hàu thương phẩm, nuôi cá rô đầu vuông, nuôi ốc hương thương phẩm theo hướng an toàn sinh học, sản xuất giống sò huyết, cá bớp, cá chẽm, tu hài, tôm thẻ chân trắng và nhiều mô hình khai thác, chế biến thủy sản theo chuỗi giá trị gia tăng…

Ông Lê Hữu Phước ở xã An Hải, huyện Tuy An, cho biết: Năm 2014, gia đình tôi tham gia mô hình nuôi sò huyết ở đầm Ô Loan trên diện tích hơn 1ha, do Trung tâm Giống và kỹ thuật thủy sản (Sở NN-PTNT) chuyển giao. Mặc dù trong quá trình nuôi, thời tiết và môi trường nước không thuận lợi nhưng sau 4 tháng, chúng tôi thu nhập hơn 50 triệu đồng. Năm 2015, gia đình tiếp tục tham gia mô hình này trên diện tích khoảng 0,5ha. Sau 5 tháng nuôi, sò đạt trọng lượng khoảng 70 con/kg, thu hơn 300kg, bán được với giá 200.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí còn lãi gần 50 triệu đồng.

Theo ông Trần Sáu, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Tuy An, trước đây, có thời điểm nguồn sò huyến tự nhiên trong đầm Ô Loan bị cạn kiệt, nhiều năm không thấy xuất hiện. Từ khi Trung tâm Giống và kỹ thuật thủy sản triển khai mô hình nuôi bảo vệ và phát triển nguồn lợi sò huyết đầm Ô Loan đến nay, sò huyết đã xuất hiện trở lại. Không những thế, đơn vị này còn hỗ trợ giống sò huyết, hàu cho ngư dân sống quanh đầm để nuôi, giúp cải thiện thu nhập. Hiện địa phương đã quy hoạch khoảng 40ha mặt nước ở khu vực đầm Ô Loan để nuôi sò huyết. Hai năm nay, nhiều hộ đã thành công với mô hình nuôi loài thủy sản này.

Kỹ sư Võ Minh Hải, cán bộ kỹ thuật Trung tâm Giống và kỹ thuật thủy sản, cho biết: Ngoài việc sản xuất thành công hơn 2,1 triệu con giống sò huyết và thả nuôi tái tạo nguồn lợi ở đầm Ô Loan, trung tâm cũng đã sản xuất thử nghiệm thành công khoảng 80 vạn con giống hàu muỗng, trong đó thả khoảng 40 vạn con giống nuôi ở đầm Ô Loan, số còn lại hỗ trợ cho các hộ nuôi tại huyện Tuy An và TX Sông Cầu. Qua theo dõi, các hộ được hỗ trợ giống hàu muỗng đều nuôi thành công, đạt kết quả cao… Ngoài ra, Trung tâm Giống và kỹ thuật thủy sản còn triển khai nhiều mô hình như ương thử nghiệm cá bớp, cá chẽm, cá lăng đuôi đỏ…; đồng thời chuyển giao công nghệ sản xuất giống tu hài cho hàng chục hộ nuôi ở huyện Đông Hòa và TP Tuy Hòa. Đến nay, nhiều trại sản xuất giống thủy sản trên địa bàn tỉnh đã áp dụng và nhân nuôi thành công tu hài giống.

Chú trọng phát triển theo hướng bền vững

Theo Sở NN-PTNT, việc phát triển các mô hình nông nghiệp mới và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh đã giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông lâm thủy sản, tăng thu nhập cho nông dân. Tuy nhiên, việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp ở Phú Yên còn ít, chưa tạo được bước đột phá. Giá trị sản phẩm thu được trên đơn vị diện tích trồng trọt và nuôi trồng thủy sản chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Hiện một số địa phương trong tỉnh chậm phổ biến các mô hình hiệu quả; sự phối hợp giữa các ngành và địa phương trong công tác này chưa đồng bộ…

Ông Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT, cho biết: Phú Yên đã xây dựng đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp nói chung, trong đó có đề án Tái cơ cấu ngành Thủy sản. Đề án này tập trung phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu thị trường, trong đó tập trung nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú, tôm hùm, cá biển. Ngoài ra, tỉnh tiếp tục ổn định diện tích nuôi trồng khoảng trên 11.000ha, trong đó diện tích ao đìa nước lợ gần 2.200ha, diện tích mặt nước biển 1.650ha, diện tích ao đìa nước ngọt trên 188ha, diện tích sản xuất giống thủy sản 85ha và diện tích mặt nước hồ thủy điện, thủy lợi khoảng 7.000ha. Đặc biệt, tỉnh chú trọng nâng cao năng lực chọn tạo và quản lý con giống thủy sản, bảo đảm 90% nhu cầu giống thủy sản sạch bệnh; đẩy mạnh áp dụng thực hành nuôi trồng thủy sản tốt, nuôi thủy sản có chứng nhận, phát triển các vùng nuôi thủy sản thâm canh ứng dụng công nghệ cao, nuôi tiết kiệm nước, nuôi an toàn sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái.

Màng chống thấm HDPE giá rẻ nhất tại Hà Nội

>>Phú Yên đang đầu tư các công trình hạ tầng đầu mối phục vụ vùng nuôi trồng tập trung và kết hợp dịch vụ thú y thủy sản, giám sát môi trường nuôi; khuyến khích phát triển các mô hình nuôi liên kết với doanh nghiệp, phát triển hệ thống thu mua, kết nối với các nhà máy chế biến, chợ, siêu thị trong tỉnh và thị trường ngoài tỉnh để tiêu thụ sản phẩm thủy sản.
Ông Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT

Giải pháp khắc phục ao nuôi sau mưa

Nguồn: (Thủy sản Việt Nam)

Ngoài công tác chuẩn bị trước khi mùa mưa bão đến thì việc khắc phục và xử lý ao nuôi thủy sản sau mưa cũng góp một vai trò không nhỏ, giúp giảm thiểu thiệt hại cho người nuôi.

Xử lý môi trường

Ngay sau những cơn mưa, việc làm cần được ưu tiên chính là tiến hành kiểm tra bờ ao, cống cấp thoát nước, đăng lưới, tình trạng lồng bè để biết được tình trạng ao nuôi và lượng thủy sản nuôi có thất thoát hay không. Sau đó, tiến hành thu dọn, vớt rác, lá cây, thân cây bị đổ xung quanh để làm sạch ao và tránh lá cây bị thối gây ô nhiễm cho nguồn nước trong ao. Tiếp đến, cần tiến hành theo dõi các hoạt động của thủy sản nuôi như màu sắc cơ thể, hình dạng bên ngoài, sức ăn… để kiểm tra sức khỏe của tôm, cá nuôi. Cùng đó, việc kiểm tra các thông số môi trường như pH, độ mặn, DO, NH3, độ đục… để có biện pháp xử lý kịp thời.

Cân bằng mực nước: Mực nước trong ao nuôi không nên để quá sâu hoặc quá cạn và phải tùy thuộc vào từng giai đoạn nuôi. Đối với tôm, cá nuôi thương phẩm, mực nước tối ưu để hạn chế sự ảnh hưởng của thời tiết khoảng 1,2 – 1,5 m. Sau mưa, lượng nước trong ao thường lên cao, vì vậy cần xả bớt lượng nước tầng mặt trong ao để duy trì mực nước thích hợp và tránh gây ra hiện tượng phân tầng nước. Tuy nhiên, khi xả nước cần phải lưu ý để tránh làm giảm độ mặn đột ngột (trong ao nuôi tôm), tránh tràn bờ, vỡ cống (do lượng nước sau mưa bão là rất lớn).

Rải vôi để ổn định pH cho ao tôm

Rải vôi để ổn định pH cho ao tôm – Ảnh: Vũ Mưa

Cung cấp ôxy: Ôxy hòa tan (DO) là một trong những yếu tố chất lượng nước quan trọng nhất và dễ phát sinh vấn đề nhất trong nuôi trồng thủy sản; lượng DO thực tế trong nước chịu sự ảnh hưởng chung của các nhân tố sinh học, vật lý và hóa học mà thay đổi theo thời gian. Do đó, cần đảm bảo DO ở ngưỡng thích hợp cho sự phát triển của động vật thủy sản nuôi. Tiến hành chạy quạt nước và sục khí liên tục để cung cấp ôxy trong ao. Đồng thời, người nuôi cần dự trữ thêm viên ôxy tức thời để phòng cho trường hợp thiếu ôxy khẩn cấp.

Ổn định pH: Khi mưa xuống, pH trong ao sẽ bị giảm xuống đột ngột; do đó trước và trong lúc mưa nếu không xử lý tốt như không rải vôi để ổn định pH, thì sau mưa pH trong ao nuôi cũng ở mức thấp và không ổn định. Khi kiểm tra pH trong ao nếu thấy pH chưa đạt ngưỡng thích hợp cần bón CaCO3 với lượng 15 – 20 kg/100 m2.

Kiểm soát độ kiềm, độ trong: Sau mưa, nước ao thường bị đục, độ kiềm có thể bị giảm do các chất hữu cơ, hạt sét bị nước mưa cuốn trôi từ trên bờ xuống. Khắc phục bằng cách sử dụng muối vô cơ như nhôm sunfat (Al2(SO4)3) để tạo kết tủa và lắng tụ hay thạch cao với liều lượng 30 kg/1.000 m2 và lặp lại 2 – 3 lần. Cùng đó, dùng Dolomite liều lượng 10 – 20 kg/1.000 m3 (đối với ao nuôi tôm) xử lý từ từ cho đến khi độ kiềm đạt ngưỡng cho phép.

Ngoài ra, người nuôi còn phải kiểm tra các yếu tố khác như lượng khí độc trong ao để có biện pháp xử lý kịp thời. Sau khi ổn định được độ trong, cần tiến hành gây lại màu nước cho ao nuôi để đảm bảo sự phát triển ổn định của vật nuôi.

Quản lý thức ăn

Cần theo dõi tình hình thời tiết để điều tiết lượng thức ăn cho động vật nuôi; sau khi mưa bão chấm dứt hoàn toàn mới cho thủy sản ăn trở lại nhưng chỉ cho ăn với lượng 30 – 50% so lúc bình thường. Đồng thời, tiến hành bổ sung thêm Vitamin C, men tiêu hóa, khoáng vào thức ăn để tăng sức đề kháng cho tôm, cá

Quản lý dịch bệnh

Khi mưa lũ đến, tôm cá thường dễ bị bệnh do các yếu tố thay đổi thất thường, nhất là thủy sản nuôi lồng bè. Các bệnh thường gặp trong thời điểm này chủ yếu là do ký sinh trùng (trùng mỏ neo, trùng bánh xe…), vi khuẩn (Aeromonas, Vibrio…) gây ra. Vì vậy, cần phòng bệnh cho thủy sản nuôi bằng cách cho tôm, cá ăn đầy đủ, tránh những thức ăn bị hư, thối, đồng thời bổ sung thêm Vitamin C vào thức ăn của tôm, cá. Dùng thuốc hay hóa chất tắm cho cá trong ao nuôi như muối ăn 2 – 4%, CuSO4 2 – 5%, formaline 25 – 30 ppm hoặc phun trực tiếp xuống ao với liều lượng nhỏ hơn 10 lần. Đối với lồng bè, có thể treo túi vôi hoặc viên TCCA (Vicato) theo hướng dẫn để phòng bệnh.

Tham quan mô hình trang trại chăn nuôi heo cực kì chuyên nghiệp

Nguồn tin: theo Nông nghiệp Việt Nam

 

Chăn nuôi chuyên nghiệp

Hiện tại đã có 8 trang trại tham gia dự án này và đều nằm trong HTX chăn nuôi heo an toàn Tiên Phong. Tại trang trại heo Gia Phát (huyện Củ Chi, TP HCM) của anh Trần Quốc Thắng, chúng tôi đã được tham quan để tận mắt chứng kiến đàn heo lớn lên đến 600 heo nái và 2.000 heo thịt được nuôi hoàn toàn trong chuồng lạnh. Sau khi dạo một vòng, nhiều người trong đoàn nói vui: “Heo của anh Thắng còn sướng hơn… người vì cả “quãng đời” từ nhỏ đến lớn được chủ mở điều hòa mát rượi”.

Mặc dù đầu tư ban đầu khá lớn, nhưng do chăn nuôi chuyên nghiệp nên anh Thắng khẳng định hệ thống chuồng lạnh sinh lời rất lớn. Trung bình giảm được 5% chi phí nuôi (nhân công, thức ăn, thuốc thú y…) và tăng thêm 5% sản lượng thịt mỗi vụ.


Heo được nuôi trong phòng gắn điều hòa, uống nước lọc và thức ăn sạch

Trên đà phát triển này, năm 2011 anh Thắng bỏ ra 2,5 tỷ đồng để nhập 54 con heo nái chất lượng cao từ Mỹ và Canada về để nâng cao khả năng cung cấp giống cho trại và thị trường TP HCM. Mỗi đầu heo trong trại của anh Thắng đều có mã số tai để quy định dấu hiệu nhận biết, sản phẩm con giống xuất ra thị trường đều có thẻ tai nhựa được quy định bởi Chi cục Thú y làm cơ sở để truy tìm nguồn gốc sản phẩm.

Chia sẻ thêm về kinh nghiệm, anh Thắng khẳng định: Việc nâng cao ý thức thực hiện các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi nhằm hạn chế mầm bệnh xâm nhập là rất quan trọng. Có những việc đơn giản mà trước đây trại không lưu ý như việc để cho phương tiện vận chuyển cám hoặc heo bên ngoài vào tận trong khu vực chăn nuôi; không có hố khử trùng, bố trí chuồng trại, đường đi nội bộ không hợp lý, đan xen nhau… thì giờ đã được khắc phục triệt để. Việc xử lý chất thải, nước thải cũng được thực hiện tốt, hạn chế gây ô nhiễm môi trường, tận dụng khí biogas để chạy máy phát điện.

Đặc biệt, cuối năm 2011, thông qua dự án FAPQDC, anh Thắng đã nâng cấp hệ thống xử lý hệ thống chất thải hầm biogas rộng gần 500 m2 (cung cấp tới 30% điện năng cho toàn trang trại), xây dựng khu nhà tắm, nhà vệ sinh, xây dựng riêng phòng thay quần áo cho công nhân và khách tham quan, trang bị mới hệ thống bảo hộ lao động cho công nhân nhằm đảm bảo sức khỏe và an toàn cho khu trại.

Anh Thắng cũng cho biết, để có thể giữ vững trại heo trước sự đe dọa của dịch bệnh, trại đã tiến hành xét nghiệm nghiêm túc tất cả các loại bệnh như LMLM, dịch tả heo, xảy thai truyền nhiễm, tai xanh để từ đó sử dụng vacxin phù hợp và hiệu quả nhất. Đặc biệt, trại Gia Phát cũng như các thành viên trong HTX Tiên Phong đã chủ động sử dụng các chế phẩm sinh học thay thế cho việc sử dụng kháng sinh và làm tăng sức đề kháng cho vật nuôi.

Ngoài ra, vài tháng gần đây có thông tin một số hộ chăn nuôi dùng chất tạo nạc khiến giá heo sụt giảm, anh Thắng đã chủ động yêu cầu tất cả các công ty cung cấp TĂCN cho trại phải lấy mẫu đi xét nghiệm và gửi kết quả an toàn tuyệt đối với chất cấm thì mới nhập mua. Chính vì thế, dù Chi cục Thú y TP HCM đã nhiều lần đột xuất lấy mẫu thức ăn, mẫu thịt khi HTX đưa heo về giết mổ tại các lò mổ, nhưng kết quả 100% không phát hiện có chất kích thích tăng trọng. Đây cũng là yếu tố giúp giá thịt heo của trại luôn cao hơn trung bình từ 4 – 5 triệu đồng/tấn và được các siêu thị, tập đoàn, công ty lớn đặt mua với số lượng lớn.

HTX kiểu mẫu

Cùng với trại Gia Phát, 7 trại chăn nuôi khác nằm trong HTX Tiên Phong cũng được dự án hỗ trợ tích cực nhằm cải thiện hệ thống chuồng trại theo hướng khép kín, an toàn vệ sinh, quy trình quản lý nghiêm ngặt, con giống tốt, sạch bệnh, TĂCN đảm bảo chất lượng…


Hầm biogas khổng lồ, dài tới 80m tại trại Gia Phát cung cấp 30% điện năng cho toàn trại

Theo ông Nguyễn Hữu Chí – Chủ nhiệm HTX Chăn nuôi heo an toàn Tiên Phong, HTX được thành lập vào năm 2007, là mô hình HTX kiểu mẫu tại TP HCM. Hiện HTX có 12 thành viên phân bổ tại nhiều xã của huyện Củ Chi như: An Phú, Phú Mỹ Hưng, Thái Mỹ, Nhuận Đức, Tân Thạnh Đông, Phước Vĩnh An… với quy mô sản xuất trong toàn HTX là 3.000 con heo nái sinh sản và trên 10.000 con heo thịt.

Hàng tháng HTX cung cấp cho thị trường bình quân 450 – 470 con heo thịt tương đương 45 – 47 tấn thịt. Đặc biệt, sau 4 năm (2007 – 2011) xây dựng vùng chăn nuôi, toàn bộ các trại thành viên của HTX như trại Chí Trung, Thống Nhất, Gia Phát, Võ Thanh Phong, Bến Nghé, Hồ Cẩm Liên, Lâm Xuân Lai, Bến Dược, Sinh học BioPig, Tiến Phát… đều được Cục Thú y cấp giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh.

Trong nhiều đợt dịch (đặc biệt là dịch tai xanh), HTX nhờ thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp an toàn sinh học nên đã vượt qua sóng gió một cách an toàn, cung cấp một lượng lớn thịt an toàn và giống chất lượng cao cho TP HCM và các tỉnh phía Nam.

    Dự án FAPQDC đã tổ chức các khóa đào tạo thanh, kiểm tra, lấy mẫu cho các cán bộ của Sở NN-PTNT, Chi cục Thú y, Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Quản lý chất lượng NLS&TS, cán bộ kỹ thuật của các trang trại… Đồng thời hỗ trợ các trang trại tham gia hội nghị khách hàng, giới thiệu sản phẩm, làm truyền thông, tờ rơi, panô, áp phích quảng bá sản phẩm. Sau đó, tùy theo năng lực của từng mô hình thí điểm, dự án sẽ hỗ trợ để các trang trại được cấp giấy chứng nhận VietGap. Các cách thức đào tạo như trên do chuyên gia Canada chuyển giao, áp dụng theo kinh nghiệm và cách thức quản lý VSATTP tại Canada.

Mô hình chăn nuôi lợn kiểu Mỹ

Không chỉ riêng Bắc Carolina, ngành chăn nuôi lợn đã bùng nổ trong vài thập kỷ qua ở các bang Trung – Tây nước Mỹ./

Những thảm họa môi trường

Trong khi đó, các nhà khoa học vật lộn để tìm giải pháp cứu môi trường.

Ví dụ ở bang Iowa, đàn lợn đã tăng từ 15,3 triệu con năm 2000 lên 20,7 triệu con năm 2014.

Xuất khẩu thịt lợn của Mỹ tăng gấp đôi trong 10 năm qua lên mức hơn 2 triệu tấn/năm, chiếm 20% tổng sản lượng. Những khách hàng hàng đầu là Mexico, Nhật Bản và nổi lên gần đây nhất là Trung Quốc, nước có tỷ lệ tiêu thụ thịt lợn trên đầu người lớn nhất thế giới, theo National Geographic.

So sánh qua lượng calo, người Mỹ tiêu thụ nhiều thịt hơn người Trung Quốc, tính theo đầu người, với mức 381 gram so với 254 gram. Nhưng tính theo lượng thịt, người Trung Quốc tiêu thụ nhiều hơn người Mỹ. Lý do là người Trung Quốc ăn nhiều thịt lợn hơn và đặc biệt thích lợn nhiều mỡ.

Trong vòng một thập kỷ qua, kinh tế Trung Quốc có nhiều bước phát triển và lượng thịt nước này tiêu thụ cũng tăng lên nhanh chóng. Lượng thịt bò tiêu thụ gần đây có tăng, nhưng tốc độ không cao lắm, chỉ ở mức 14 gram/ngày. Người Trung Quốc chủ yếu tiếp nhận 2/3 nhu cầu calo từ không chỉ từ thịt lợn mà còn từ mỡ lợn.

Nhu cầu thịt lợn Mỹ từ Trung Quốc đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển mạnh trong khi các nhà khoa học Mỹ đau đầu tìm cách xử lý các vấn đề môi trường. Họ đã tìm thấy bằng chứng cho thấy các chất hữu cơ gia tăng trong sông suối bắt nguồn từ những cánh đồng ở vùng Trung-Tây, nơi nông dân phun tưới chất thải từ trại lợn. Phân lợn giàu ni-tơ và phôtxpho, là những chất cần thiết cho cây trồng.

Nhưng khi có quá nhiều chất hữu cơ thẩm thấu vào nguồn nước, chúng có thể làm các loại tảo phát triển mạnh và giết chết tôm cá. Các nguồn nước còn bị nhiễm ký sinh trùng, virus, các loại hormone, dược chất, các vi khuẩn có khả năng chống chịu thuốc kháng sinh…

Chỉ trong vòng hai năm qua, tình trạng ô nhiễm lan ra các bang Iowa, Georgia và Illinois, bên cạnh Bắc Carolina.

Câu chuyện của người hàng xóm

Elsie Herring có một mảnh đất ở hạt Duplin, Bắc Carolina, vốn được ông nội bà, một nô lệ được giải phóng, mua lại từ cuối thế kỷ 19. Có 60 ngàn người sống ở hạt Duplin, nơi có đàn lợn áp đảo số người với tỷ lệ 39/1. Trong những năm 1980, một nông dân chuyển đến cạnh nhà bà Herring mở trại nuôi lợn với hai khu chuồng, một hồ chứa chất thải lớn và đăng sau là một cánh đồng chuyên để “xử lý” chất thải. Cánh đồng này chỉ cách nhà bà vài bước chân.

Và từ đó, gia đình bà phải chịu đựng thứ mùi khủng khiếp. Nó len lỏi vào nhà ngay cả khi bà đóng hết các cửa. Bà dần mắc chứng ho và đau mắt.

“Rất khó chịu và bất tiện”, bà nói. “Thậm chí khi có bạn bè đến chơi, mọi người cũng không thể vui vẻ khi ăn uống trong lúc có ai đó chỉ cách đó vài bước chân cứ mang phân lợn ra mà rải khắp cánh đồng”.

Steve Wing, chuyên gia dịch tễ nói hoạt động chăn nuôi lợn sản sinh ra amoniac, methane-một loại khí nhà kính và hydro sulfua gây đau đầu và đau mắt. Trại lợn còn thải ra một số nội độc tố, chất gây dị ứng và ít nhất là hàng trăm hợp chất hữu cơ dễ bay hơi là nguyên nhân gây ra thứ mùi kinh khủng.

Trong một nghiên cứu bắt đầu năm 2003, Wing và các cộng sự lắp đặt các máy theo dõi mức độ ô nhiễm không khí để đo nồng độ hydro sulfua, nội độc tố ở khu dân cư phía đông bang Bắc Carolina, cách xa các trại chăn nuôi lợn khoảng 2,5 km. Họ đo các triệu chứng cơ thể cũng như huyết áp, chức năng phổi của 101 tình nguyện viên.

Các nhà khoa học nhận thấy, khi có thay đổi luồng gió, ô nhiễm không khí tăng lên thì các triệu chứng ngứa mắt, khó thở, buồn nôn, huyết áp tăng cũng phổ biến hơn.

Công nghệ cao

Chủ trại Tom Butler nói khi ông khởi sự công việc chăn nuôi lợn 20 năm trước, ông không hề biêt rằng công việc này có thể tác động đến môi trường lớn như thế.

Mấy ngày nay, trời nhiều mưa tại khu vực có trang trại của Butler, rộng hơn 52 hecta ở Lillington, North Carolina với 7.500 con lợn.

Khi quản lý trang trại Dave Hull mở cánh cửa một trong 10 khu chuồng của trang trại, hàng trăm con lợn chen chúc nhau đứng lên bắt đầu bản hòa tấu lộn xộn và chói tai. Hull chỉ vào những tấm nan dưới sàn, nói khi lợn thải phân, chất thải sẽ theo đó được nước xối thẳng tới khoang xử lý có sức chứa gần 4 triệu lít, nơi vi khuẩn phân hủy chúng trong vòng 21 ngày, sản sinh ra khí methane.

Khí ga đi vào các ống nhỏ tới một tòa nhà đặt máy phát. Khí được đốt để tạo ra điện và được bán tới các hợp tác xã trong vùng. Phần chất thải còn lại được dẫn bằng đường ống tới hai hồ chứa lớn. Khác với những hồ chứa chất thải trong vùng, hai hồ này được che phủ bằng nylon.

Kết quả là trang trại của Butler ít có mùi khó chịu hơn nhiều so với các trang trại khác. Mưa xuống cũng không gây ô nhiễm các vùng lân cận. Còn hệ thống phát điện của trang trại sản sinh lượng điện năng đủ cấp cho 90 cái tủ lạnh.

Vấn đề duy nhất của hệ thống, theo lời Butler, là tiền phải chi ra: hơn 1 triệu USD (hơn 20 tỷ đồng). Tuy nhiên, chính quyền tài trợ 3/4 chi phí, phần còn lại Butler phải bỏ tiền túi. Ông hy vọng đến năm 2022 sẽ thu hồi toàn bộ chí phí.

“Nhiều người nghĩ điều này là điên rồ, và tới nay họ vẫn đúng”, Butler nói.

Khắp nước Mỹ, chỉ 29 trại lợn sử dụng hệ thống như nhà Butler.

Mike Williams, Giám đốc Trung tâm Xử lý chất thải gia súc, gia cầm thuộc Đại học bang Bắc Carolina cho rằng, các giải pháp công nghệ như ở trang trại của Butler có thể giải quyết vấn đề môi trường nhưng chỉ khi chi phí cho các công nghệ đó giảm xuống bằng hoặc thấp hơn cách làm hiện hành (thải ra hồ, rải lên cánh đồng). “Tôi tin là sẽ có ngày đó”, Williams nói.

Quý khách có nhu cầu về màng chống thấm HDPE – Ống nhựa uPVC, vui long liên hệ với chúng tôi

Ông chủ của mô hình kinh tế trang trại tổng hợp

Nguồn tin: Báo Ninh Bình

Trang trại nuôi vịt trời của gia đình anh Hoàng Văn Điền, ở xã Yên Mạc (Yên Mô). Ảnh: CTV

“Tỷ phú tuổi 30”

Cách đây 7 năm, nhiều người đã biết đến anh Hoàng Văn Điền ở xã Yên Mạc, Yên Mô, Ninh Bình với cái tên gọi khác “Tỷ phú tuổi 30”.

Nói như vậy bởi ở tuổi 30 chàng thanh niên này đã sở hữu trong tay một trang trại tổng hợp, có diện tích hơn 2 ha, với hàng trăm con lợn và nhiều loại cây trồng quý, cho thu nhập bình quân mỗi năm 1,2 – 1,5 tỷ đồng.

Trò chuyện với anh Hoàng Văn Điền về hành trình trở thành tỷ phú của mình, chúng tôi mới thấy ở anh không chỉ có tư duy làm giàu của một người trẻ mà còn luôn tiềm tàng một tinh thần vượt khó.

Anh kể: Năm 2002, tôi là Bí thư Chi đoàn xóm 2, thôn Đông Sơn. Sau khi xây dựng gia đình, vợ chồng tôi được cha mẹ cho ra ở riêng.

Gia cảnh cũng chả dư dả gì nên “của hồi môn” được cha mẹ trao lại là 2 sào ruộng cấy, 3 triệu đồng và 5 con lợn giống.

Cầm số vốn trên, vợ chồng tôi xúc động và suy nghĩ phải làm sao thoát khỏi cảnh nghèo để có điều kiện chăm lo cho cha mẹ được tốt hơn.

Quyết tâm đi lên bằng chính sức lực của mình, anh Hoàng Văn Điền đã quyết định khởi nghiệp bằng số vốn ít ỏi đó.

Anh đã đầu tư mua thêm lợn nái về nuôi, sau 1 năm chăn nuôi, từ 5 con ban đầu, gia đình anh đã có đàn lợn sinh sản được 50 con lợn con.

Nhận thấy nuôi lợn nái và lợn thịt mang lại hiệu quả kinh tế cao, năm 2005, anh Điền mạnh dạn vay vốn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện đầu tư mở rộng quy mô chăn nuôi theo hình thức trang trại tổng hợp.

Với diện tích hơn 2 ha, anh đã quy hoạch gọn vùng chăn nuôi kết hợp với một số cây trồng cho giá trị thu nhập cao.

Trong đó, có 100 con lợn nái, mỗi năm lợn sinh sản từ 1.000 – 1.200 con lợn giống, cung ứng ra thị trường với chất lượng tốt, được các hộ chăn nuôi tín nhiệm.

Ngoài xuất bán lợn giống, anh còn nuôi lợn thương phẩm, mỗi năm xuất ra thị trường hàng trăm tấn thịt lợn hơi.

Giải quyết việc làm cho 7 lao động thường xuyên của trang trại và 12 lao động thời vụ. Thu nhập từ chăn nuôi lợn mỗi năm đạt từ 1,5 – 2 tỷ đồng, trừ chi phí thu lãi từ 1,2 đến 1,5 tỷ đồng/năm.

Tiếp tục phát triển kinh tế theo mô hình trang trại tổng hợp

Năm 2013, anh Điền được huyện Yên Mô cho đi tham quan mô hình chăn nuôi vịt trời thuần hóa, gà chín cựa, trồng cây Phật thủ ở Bắc Giang, Phước Long, sau đó được huyện hỗ trợ cây, con giống để làm thí điểm.

Nhận thấy đây là cơ hội tốt để mở rộng quy mô, anh mạnh dạn đầu tư nuôi thêm gà Đông Tảo, gà chín cựa, duy trì số lượng trên 500 con. Sau 4 tháng nuôi dưỡng, anh đã có thu nhập từ nuôi vịt trời tháng đầu tiên trên 100 triệu đồng, những tháng sau đó bình quân cho thu nhập 120 – 200 triệu đồng.

Từ tháng 9-2014 đến nay, trang trại của anh đã sản xuất được hơn 1 vạn con vịt trời giống và vịt trời thương phẩm cung cấp cho thị trường trong tỉnh và một số tỉnh ngoài như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai.

Cùng với chăn nuôi, gia đình anh Điền còn đưa vào trồng khảo nghiệm gần 50 cây Phật thủ, đây là cây trồng mới. Sau 9 tháng chăm sóc, hiện nay cây Phật thủ đang ra hoa và đậu quả, có nhiều triển vọng cho giá trị thu nhập cao.

Năm 2014, tổng thu nhập từ trang trại chăn nuôi tổng hợp của gia đình anh đã đạt trên 7 tỷ đồng, trừ chi phí, lợi nhuận đạt 2,2 tỷ đồng.

Nhiều năm qua, anh Điền còn phối hợp với Tập đoàn chăn nuôi của Thái Lan, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, Hội Nông dân các cấp tổ chức 12 lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật, dạy nghề, hướng dẫn kỹ thuật nuôi lợn nái, lợn thịt, nuôi vịt trời, gà chín cựa, gà Đông Tảo cho 1.500 học viên là nông dân trong huyện và hỗ trợ kinh phí cho các lớp tập huấn trên 34 triệu đồng.

Ngoài ra, anh còn hỗ trợ lợn giống cho 150 hộ nghèo, mỗi hộ từ 2 đến 3 con.

Mỗi năm, ủng hộ hàng trăm triệu đồng giúp người nghèo, gia đình chính sách, các em học sinh nghèo… có điều kiện vươn lên ổn định cuộc sống.

Kinh nghiệm mà anh Hoàng Văn Điền rút ra trong quá trình xây dựng, phát triển mô hình trang trại tổng hợp, đó là phải chọn những loại con giống đã được khảo nghiệm và được khuyến cáo nhân rộng, tốt nhất là nguồn con giống được sản xuất tại địa phương; nguồn thức ăn phổ thông, dễ chế biến, bảo quản, sẵn có, giá thành hạ, nhưng giá trị dinh dưỡng cao.

Đồng thời nên kết hợp chăn nuôi đa canh, liên hoàn tổng hợp, để con nuôi này sử dụng sản phẩm của con nuôi kia, hạn chế rủi ro, kết quả lãi dây chuyền tổng cộng thành lãi cao. Một yếu tố quan trọng khác, là người chăn nuôi phải biết áp dụng KHKT thì mới đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Đây là yếu tố mang tính quyết định để trở thành hộ sản xuất, kinh doanh giỏi….

Hiện nay, anh Điền đang xây dựng dự án đầu tư chăn nuôi 1.000 con lợn thịt, 100 con lợn nái tại xóm 1, thôn Hồng Phong, xã Yên Mạc.

Đồng thời tìm cách “vươn ra biển lớn” với việc quyết định ký hợp đồng xây dựng trang trại chăn nuôi tổng hợp tại huyện Đông Anh (Hà Nội), có tổng diện tích 6 ha.

Dự kiến sẽ tạo việc làm thường xuyên cho 15 lao động với mức lương ổn định từ 4 đến 4,5 triệu đồng/người/tháng.

Anh Điền tâm sự: Nếu “thuận buồm, xuôi gió”, các trang trại này sẽ cho giá trị thu nhập gấp đôi hiện nay, góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình và làm giàu cho quê hương.

Với những kết quả đạt được, năm 2005, anh Hoàng Văn Điền vinh dự được Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng Bằng khen thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác.

Năm 2008, được tặng giải thưởng Lương Đình Của “Nhà nông xuất sắc”. Và liên tục từ năm 2009 đến nay, anh được tặng nhiều Bằng khen, Giấy khen của các cấp, các ngành trong tỉnh và huyện Yên Mô. Anh Hoàng Văn Điền là một trong những điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước 5 năm (2010 – 2015) được UBND tỉnh biểu dương khen thưởng.