CÔNG NGHỆ BIOGAS HDPE

1. Khái quát về khí sinh học

     Khí sinh học (KSH) đã được biết đến ở nước ta từ những năm 1960, trải qua trên 50 năm phát triển ở Việt Nam, khí sinh học ngày càng được phát triển rộng rãi từ quy mô sản xuất nhỏ, vài mét khối đã mở rộng sang quy mô sản xuất lớn vài nghìn đến vài chục nghìn mét khối, từ lĩnh vực chăn nuôi sang lĩnh vực công nghiệp, khu vực nông thôn sang khu vực thành thị.

biogas-hdpe

biogas HDPE

     Riêng trong lĩnh vực chăn nuôi gia súc quy mô nông hộ, khí sinh học đã phát triển đến hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước. Hiện nay, đã có hàng chục nghìn công trình khí sinh học đang hoạt động với nhiều kiểu thiết bị khí sinh học khác nhau do nhiều tổ chức thiết kế và phổ biến.

    Quá trình sản xuất khí sinh học là tiến hành gây lên men sinh học các chất hữu cơ như: các chất thải của nông nghiệp, phân gia súc, gia cầm và các chất thải công nghiệp phân hủy trong môi trường yếm khí để sinh ra khí mêtan (CH4), cacbon điôxít (CO2) và khí sulfua hydro (H2S).

     2. Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi và giải pháp bảo vệ môi trường trong chăn nuôi ở Sóc Trăng

     Tại tỉnh Sóc Trăng hàng năm tổng đàn gia súc trên 300.000 con, trong đó đàn heo chiếm trên 250.00 con, hiện nay loại hình chăn nuôi trang trại đang hình thành và phát triển, toàn tỉnh có có trên 15 trang trại chăn nuôi heo thịt gia công cho công ty TNHH CP với quy mô trung bình từ 1.000 – 5.000 con/trang trại, các trang trại còn lại có quy mô từ vài trăm con heo trên 100 trang trại tập trung rải rác ở các huyện, số còn lại là chăn nuôi nhỏ lẻ quy mô nông hộ.

 Một số trang trại có đầu tư công trình xử lý môi trường nhưng không hiệu quả và chưa khai thác sử dụng hết nguồn năng lượng khí sinh học. Hầu hết các trang trại chưa đầu tư công trình xử lý môi trường, toàn bộ lượng phân và nước thải phát sinh hàng ngày được thải trực tiếp vào các ao lưu chứa trong khuôn viên trang trại, sau đó lan truyền ra bên ngoài làm ô nhiễm các kênh, rạch và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe dân cư.

3. Lợi ích của việc ứng dụng công nghệ biogas hdpe

     Khí sinh học sản xuất từ hầm biogas bao gồm 2/3 khí mêtan (CH4), 1/3 khí cacbonic (CO2) và năng lượng khoảng 4.500-6.000 calo/m3. Một mét khối (1m3) hỗn hợp khí với mức 6.000 calo có thể tương đương với 1 lít cồn, 0,8 lít xăng, 0,6 lít dầu thô, 1,4 kg than hay 1,2 kWh  điện năng, có thể sử dụng để chạy động cơ 2KVA trong 2 giờ, sử dụng cho bóng đèn thắp sáng trong 6 giờ, sử dụng cho tủ lạnh 1m3 khí biogas trong 1 giờ hoặc sử dụng nấu ăn cho gia đình 5 người trong 1 ngày. Trong tương lai công nghệ biogas sẽ là nguồn cung cấp năng lượng chính nhằm giải quyết chất đốt sinh hoạt cho vùng nông thôn, thay thế các loai nhiên liệu khác như củi, trấu, than,…ngoài ra còn có thể sử dụng khí sinh học cho các mục đích khác như: phát điện, lò sấy, đèn thắp sáng, hệ thống nước nóng, các tủ lạnh chạy bằng gas,…

     Đối với loại hình chăn nuôi nông hộ, hiện có trên 500 công trình hầm ủ biogas hdpe với thể tích từ vài khối đến vài chục khối do người chăn nuôi trực tiếp đầu tư hoặc được hỗ trợ thông qua các chương trình dự án, các hầm ủ được thiết kế thi công với nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau như hầm bêtông, túi PE, vật liệu mới màng chống thấm HDPE.

     Việc ứng dụng công nghệ hầm ủ biogas sẽ giải quyết vấn đề ô nhiễm môi đất, nước, không khí giảm thiểu các chất khí gây hiệu ứng nhà kính phát sinh từ quá trình sản xuất, chăn nuôi hạn chế dịch bệnh bảo vệ sức khỏe cộng

4. Giải pháp về công nghệ để xây dựng hầm ủ biogas HDPE

     Hiện, có rất nhiều loại hầm khí sinh học (biogas) được phổ biến rộng rãi trên thị trường, từ hầm sinh khí dạng vòm nắp cố định KT bằng bêtông, đến túi sinh khí bằng nilon, hầm Composite, hầm Biogas VACVINA cải tiến, hầm ủ biogas sử dụng vật liệu HDPE. Mỗi loại hầm ủ đều có những ưu và nhược điểm riêng, đối với các loại hầm ủ bê tông tuy tuổi thọ trung bình cao nhưng chi phí đầu tư ban đầu lớn, khó thi công và chỉ xây dựng với thể tích nhỏ; các hầm biogas bằng nilon tuy có chi phí đầu tư ban đầu thấp nhưng tuổi thọ trung bình ngắn.

     Hiện nay Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Sóc Trăng làm chủ công nghệ lắp đặt hầm ủ biogas cải tiến sử dụng vật liệu HDPE, so với các loại hầm ủ biogas khác thì hầm ủ biogas cải tiến sử dụng vật liệu HDPE có nhiều ưu điểm hơn, có thể thi công với nhiều thể tích khác nhau từ vài khối đến vài nghìn khối, với chi phí đầu tư xây dựng ban đầu thấp và thể tích lớn, kỹ thuật lắp đặt đơn giản, thời gian lắp đặt nhanh, tuổi thọ công trình cao hơn và dễ khắc phục các sự cố và có thể thi công trên nhiều địa hình khác nhau mà các loại hầm ủ khác không thể thi công được là một giải pháp chủ yếu và hữu hiệu để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường không chỉ đối với ngành chăn nuôi, mà còn áp dụng cho nhiều ngành nghề khác như: chế biến sản phẩm nông, công nghiệp, thủy sản, thực phẩm, các cơ sở giết mổ tập trung,…cung cấp nguồn năng lượng thay thế, năng lượng sạch để phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt rất hiệu quả.

 Bảng phân tích, so sánh khả năng ứng dụng mô hình hầm ủ biogas cải tiến sử dụng màng chống thấm HDPE  so với các loại hầm ủ khác

Nội dung

ĐVT

So sánh

Ghi chú

Hầm HDPE

Hầm bêtông

Túi PE

Thể tích hầm/1 m2 diện tích xây dựng hầm m3 5 – 6 2 – 3 1 – 1,2 Chiều sâu hầm bê tông trung bình 3 m. Chiều sâu hầm túi PE trung bình 1 m. Chiều sâu hầm  HDPE trung bình 6 m
Hiệu quả giảm thiểu BOD5, COD, SS, Ntổng, Ptổng,.. sau hầm ủ biogas % ≈ 60 ≤ 50 ≤ 50 Thể tích hầm ủ và thời gian lưu tồn ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý chất thải, nước thải trong hầm ủ. hầm ủ biogas sử dụng bạt HDPE có thể tích lớn nên hiệu xuất xử lý nước thải sau hầm ủ cao hơn các loại hầm ủ khác.
Quy mô xây dựng thể tích trung bình m3 ≈5.000 ≈100 ≈20 Thể tích lớn của hầm HDPE có thể   đến hàng trăm ngàn m3
Thời gian thi công công trình (không tính thời gian đào hầm)  tháng ≈1/4 > 1 – Thời gian cho lắp bạt HDPE hầm 1.000 m– Thời gian xây dựng hầm bê tông 100 m3
Chi phí đầu tư cho các loại hầm ủ (triệu đồng) m3  0,2 1,2 – 1,5 0,25 Giá thành nguyên vật liệu thấp, đầu tư xây dựng với thể tích lớn nên việc lắp đặt hầm ủ biogas sử dụng bạt HDPE có chi phí đầu tư thấp so với các loại hầm ủ khác
Tuổi thọ hầm chứa năm ≈15 ≈10 ≈2-3 Xu thế ứng dụng hiện nay để hạn chế đầu tư mới, sửa chữa và bảo vệ  tốt nguồn nước ngầm.

 

Tư vấn Thi công trải màng chống thấm HDPE – Hồ BIOGAS

Màng chống thấm HDPE tùy theo độ dày khác nhau có dày từ 0.2mm đến 3.0mm mời quý khách tham khảo thêm ở đây:

Bài viết này chúng tôi đúc kết những kinh nghiệm trong quá trình thi công các công trình từ hồ BIOGAS, hồ xử lý nước thải, hoặc hồ nuôi tôm trên cát, hoặc các công trình chống thấm khác như chống thấm các tòa nhà cao tầng, chống thấm ngược cho nhà máy đường, hoặc chống thấm cho các bể chứa xăng dầu… tùy vào các công trình mà nhà thầu hoặc chủ đầu tư chọn sản phẩm màng chống thấm HDPE có độ dày thích hợp.

Thông thường, màng chống thấm HDPE GSE hoặc Hutex được nhập khẩu từ Thái Lan – GSE, nhập khẩu từ Đài Loan – Hutex, các sản phẩm này có độ bền cao, chống chịu được tia UV (Tia cực tím từ mặt trời) khá tốt, có tuổi thọ trung bình từ 7 năm dưới ánh nắng liên tục trong vùng khí hậu nhiệt đới như ở Việt Nam, và có tuổi thọ từ 10 năm đến 50 năm nếu được chôn dưới đất, hoặc không chịu ánh nắng mặt trời trực tiếp.  màng chống thấm HDPE  được sản xuất tại Việt Nam có tuổi thọ ngắn hơn vì độ kháng tia UV kém hơn, dễ giòn và gãy trong thời gian từ 5 đến 20 năm.

Nhà thầu hoặc chủ đầu tư thường chọn màng HDPE có độ dày từ 0.5mm đến 1.5mm để thi công cho hồ xử lý nước thải, bãi chôn lấp rác, hoặc hồ nuôi tôm, vì thường chọn loại này có giá thành rẻ, nhưng đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và độ bền cho công trình như mong đợi.

Thông dụng, các chủ đầu tư lựa chọn màng chống thấm HDPE Việt Nam dày 0,5 mm (khổ 4-5 mét) để lót đáy. Sử dụng màng chống thấm HDPE dày 1 mm đến 1,5 mm để làm lớp phủ (đây là lớp quan trọng nhất)

Hồ BIOGAS:

Đặc tính của hồ BIOGAS cũng như hồ xử lý nước thải, tuy nhiên sự khác biệt ở đây là một dạng túi khí hàn kín mặt phía trên (lớp phủ).  Nếu xây hồ Biogas trên vùng đất không thẩm thấu nước, hoặc độ thẩm thấu nước thấp như những vùng có ao hồ tù đọng, thông thường những vùng này không cần lót mặt đáy chống thấm bên dưới, do đó quý khách nên cân nhắc vì nếu công trình lớn sẽ bị thẩm thấu vào đất lâu ngày gây ô nhiểm mạch nước ngầm trong một vùng khá rộng. Nếu một công trình lớn từ hàng ngàn khối khí trở lên, việc làm cho hồ khô đi để thi công trãi màng cũng là một trở ngại và gây nhiều khó khăn, cũng như làm cho chi phí và thời gian thi công lên cao, để khắc phục việc này, chúng thôi có phương pháp thi công trãi màng địa kỹ thuật HDPE này trên mặt nước.

Công trình Biogas không cần lót chống thấm mặt đáy

Hồ Biogas quan trọng nhất vẫn là thi công hàn kín ở mặt bích phía trên cho dù lót đáy hay không, tuy nhiên quý khách không cần phải thắc mắc là “Làm sao có thể kiểm tra và kiểm soát được mối hàn kép, cũng như những nơi gia cố bằng hàn đùn hoặc hàn khò ?” Chúng tôi kiểm soát đường hàn kép bằng cách thử mẫu thí nghiệm phá hủy tại chân công trình bằng máy chuyên dụng. Kiểm soát các chổ rò rỉ ở những đường hàn kép hàn đùn, gia cố hàn khò bằng máy hút chân không.

Thi công xong mặt lót đáy bằng màng HDPE 0,5 mm

Hồ Biogas là một hệ thống, bao gồm hồ điều hòa, kênh dẫn nước, hồ thu nước thải URE, Hồ sinh học. Để làm đúng quy trình của một hệ thống Biogas thông thường có những hạng mục sau: Hồ Biogas chính còn gọi là hồ kỵ khí, chi tiết bao gồm hố ga đầu hồ và hố ga cuối hồ. Ngoài ra còn có hồ sinh học có thể không cần thiết, các công trình phụ như bể lắng, sân phơi, máy bơm bùn…

Hệ thống thu và lọc khí cho máy phát điện

Thông thường trong bể Biogas trước khi hàn mặt phía trên, bên thi công chúng tôi thường kiểm tra các mối hàn kép bằng mẫu thử phá hủy tại công trình, kiểm tra hút chân không, gia cố các ống HDPE như ống dẫn cấp nước, ống thu nước, ống dẫn sang hồ điều hòa. (Hồ điều hòa là hồ beton mac 250 có chiều dài, rộng, cao là 1m x 1m x độ sâu của hồ tính từ mặt đáy vuông góc 90 độ) hồ này có chức năng là kiểm soát mực nước trong hồ. Trước khi thi công mặt phía trên quý khách cần bỏ vào hồ 02 thùng phuy nhựa có dung tích khỏang 200 lít. 02 thùng phuy này giống là phao khắc phục sự cố khi hồ kỵ khí bị rò rỉ.

 

Bể điều hòa mực nước và thu nước URE

Vậy quý khách có câu hỏi “Làm sao để khắc phục sự cố khi mặt phía trên bị rò rỉ  khí gas.?”

– Có 02 cách khắc phục:

1.    Nếu công trình Biogas có dung tích nhỏ từ 500 mét khối khí trở xuống thì chúng ta phải xả khí gas trong hồ bằng cách xả ống dẫn gas và đốt cháy hết, ngưng cấp nước để không còn sinh khí gas sau đó gia cố bằng máy hàn nhiệt hoặc keo dán chuyên dụng HDPE.

2.    Nếu công trình Biogas có dung tích trên 500 mét khối khí đến hàng ngàn mét khối khí thì việc xả khí gas và đốt là rất mất thời gian và không khả thi, hoặc máy phát điện đang vận hành không thể dừng sản xuất được, vậy bằng cách khắc phục sự cố rò rỉ ngay trên túi khí. Việc này rất nguy hiểm vì khó có thể gia cố khí gas bằng máy hàn nhiệt. Chúng tôi có thể khắc phục rò rỉ mà vẫn giữ được túi khí không cần xả và đốt.

Sức căng của bề mặt là rất lớn

Ống thu khí bằng HDPE hoặc PVC được neo quanh thành hồ gần với mép taluy trước khi hàn mặt phía trên. Ống thu khí này được đục lổ và treo quanh thành hồ, những công trình nhỏ không cần phải có.

Lắp ống thu khí HDPE quanh thành hồ trước khi hàn mặt phía trên

Khuyến cáo chọn độ dày của màng chống thấm HDPE. Nếu quý khách dùng HDPE của Việt Nam thì giá thi công lắp đặt cao hơn HDPE – GSE hoặc HDPE – Hutex, vì khổ ngang của hai loại này là 7m. Thông thường chúng tôi khuyên khách hàng nên chọn HDPE lót đáy có độ dày 0,5mm đến 0,75 mm và mặt phía trên từ 1.0mm đến 2.0mm tùy theo thiết kế của công trình có thể sử dụng trong bao nhiêu năm, độ dày càng lớn thì tuổi thọ công trình càng cao. Những công trình không lót đáy chống thấm bên dưới thì thi công khó hơn vì phải hàn kính HDPE trên mặt nước, điều này về môi trường thì hoàn toàn không khuyến cáo vì mạch nước ngầm sẽ bị ô nhiểm.

Lưu ý quan trọng: Các ống dẫn thu nước, cấp nước… có liên quan hàn vào màng HDPE phải là chất liệu HDPE. Nếu không cùng chất liệu, trong một thời gian ngắn các mối hàn sẽ bị rò rỉ khó khắc phục. Màng HDPE, bạt HDPE có độc hại không ?

 

Nuôi tôm thẻ chân trắng: ao nhỏ, hiệu quả cao!

nguồn: PGS TS Hoàng Tùng – Cố vấn Khoa học của Skretting Việt Nam

Nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao nhỏ, được đầu tư bài bản đang đem lại những kết quả khả quan không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên thế giới. Hiệu quả nuôi được thể hiện dưới nhiều góc độ: khả năng kiểm soát môi trường và mầm bệnh tốt hơn, cho phép nuôi mật độ cao (150 – 300 con/m2) để cải thiện năng suất (25 – 40 tấn/ha/vụ), hiệu quả cao hơn khi cần nhanh chóng thay đổi hoặc cải thiện môi trường nuôi, tiết kiệm chi phí sản xuất (hóa chất, vôi, vi sinh, thức ăn, nhân công) nhờ đó có cơ hội giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận thu về. Ao nhỏ còn phù hợp với qui mô và giá cả của các trang thiết bị hỗ trợ hiện có trên thị trường, đặc biệt là hệ thống cung cấp oxy hòa tan (quạt nước, sục khí đáy hoặc sục lủi) hoặc xử lý nước bằng phương pháp vật lý (lọc, tia cực tím, ozone, siêu âm hay công nghệ nano).

Mô hình nuôi tôm theo qui trình semi-biofloc của Trang trại Nuôi trồng Thủy sản Chính Mỹ ở Khánh Hòa sử dụng ao 1.200 – 1.500 m2, đầu tư hiện đại chỉ có chi phí sản xuất ở mức 60.000 đồng/kg với năng suất ổn định từ 4 – 5 tấn/ao/vụ (Hình 1). Với năng suất và chi phí sản xuất này, một khu nuôi chuẩn gồm 3 ao nuôi, 1 ao ương và 1 ao chứa nước cấp bù trên diện tích 1 ha, mỗi vụ nuôi có thể đem lại lợi nhuận từ 800 triệu đến 1 tỉ đồng. Cùng đầu tư theo hướng sử dụng ao nhỏ lót bạt HDPE, có hệ thống siphone và hệ thống quạt nước đủ mạnh, ông Nguyễn Hữu Khoa chủ đại lý Anh Khoa ở Bình Thuận cho biết “lúc trước một ao nuôi hình chữ nhật diện tích 3.000 m2 nếu nuôi tốt tôi thu 7 – 8 tấn tôm mỗi vụ. Từ khi chia nhỏ thành 2 ao thì quản lý dễ hơn, tổng sản lượng lên đến 10 – 12 tấn/vụ. Quan trọng hơn, khi muốn nâng kiềm hay xử lý nước thì có thể thấy hiệu quả gần như tức thời nhờ ao nhỏ, mức độ khuấy đảo tốt”. Tỉ lệ thành công lên đến hơn 70% tổng số hơn 80 ao nuôi. Cỡ tôm thu hoạch từ 25 – 70 con/kg, phổ biến nhất là 35 – 45 con/m2.

Hình 1: Ao nuôi 1.200 m2 lót bạt, sử dụng công nghệ semi-biofloc, lót màng chống thấm HDPE

Ao nuôi diện tích nhỏ được thiết kế dạng hình vuông, bo bốn góc, lót bạt HDPE toàn bộ nền đáy và bờ ao để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác vệ sinh, thu gom chất thải cũng như sử dụng quạt nước công suất lớn. Ở một số tỉnh miền Bắc, thay vì lót bạt, người nuôi làm ao bê tông. Tuy nhiên, hiệu quả và đặc biệt là khả năng vệ sinh không tốt bằng giải pháp lót màng chống thấm HDPE. Diện tích ao có thể dao động từ 500 – 2.000 m2, phổ biến nhất là tầm 1.200 – 1.600 m2. Độ sâu của ao phụ thuộc vào diện tích bề mặt, được thiết kế để có thể đảm bảo mực nước từ 1,3 – 1,7 m. Đáy ao được xử lý kỹ bằng cách bơm cát, lu nền trước khi lót bạt. Độ dốc về trung tâm của ao không cần phải quá lớn, chỉ đủ để nước dồn về đây khi xả cạn. Nếu bố trí hệ thống quạt hợp lý, chất thải sẽ dồn tụ vào khu vực giữa ao, nơi bố trí hố thu gom chất thải và hệ thống siphon. Người nuôi có thể siphon liên tục trong một khoảng thời gian hoặc chỉ định kỳ với tần suất tăng dần theo thời gian nuôi sao cho chất thải không có cơ hội tích lũy, phân hủy trong môi trường ao nuôi. Đây được coi là bí quyết thành công của các cơ sở nuôi tôm tại Thailand và Indonesia khi dịch bệnh phổ biến, đặc biệt là bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND).

Hình 2: Tôm đã vào size có thể thu hoạch 

Một ao nuôi diện tích 1.500 m2 cần đầu tư 4 giàn quạt, đặt ở gần 4 góc ao. Công suất của motor là 3 mã lực cho mỗi giàn. Trong trường hợp sử dụng 1 motor để chạy cùng lúc 2 giàn quạt đặt ở 2 ao sát nhau thì công suất của motor là 5 mã lực. Số lượng cánh quạt từ 10 – 12 cánh. Chiều dài của trục lap từ bờ đến cánh quạt xa nhất khoảng ½ khoảng cách từ bờ đến giữa ao. Trục lap của giàn quạt nên đặt lệch khoảng 6 – 8o ngửa ra so với trục vuông góc với bờ ao để tạo dòng chảy tốt hơn, thu gom chất thải tốt hơn. Trong tháng nuôi đầu tiên, khi tôm còn nhỏ, chỉ cần đặt một sục lủi công suất 1 mã lực ở giữa ao, kết hợp với hệ thống sục khí đáy dọc bờ ao công suất 2 mã lực là đủ. Từ tháng thứ 2 trở đi, cho tôm ăn bằng máy tự động, chạy liên tục 2 giàn quạt vào ban ngày và tất cả các giàn quạt vào ban đêm. Cứ 2 – 3 ngày siphon một lần. Sang tháng thứ 3 vận hành liên tục các giàn quạt. Nếu cần thiết thì bổ sung thêm để đảm bảo oxy hòa tan và gom tụ chất thải để siphon, đưa vào ao thu gom chất thải. Lợi khuẩn được nhân sinh khối tại chỗ bằng phương pháp đơn giản và bổ sung vào ao hàng ngày. Chính trong môi trường thuận lợi này, tôm giống có chất lượng sẽ đạt tốc độ tăng trưởng tốt nhất có thể.

Tổng mức đầu tư cho một khu nuôi 1 ha hoàn chỉnh ở mức 1,0 – 1,5 tỉ đồng hay 250 – 300 triệu/ao. Mức đầu tư này có thể là rào cản với các hộ nuôi tôm gia đình, qui mô nhỏ. Tuy nhiên, xét về hiệu quả sản xuất và khả năng kiểm soát rủi ro, việc đầu tư ao nuôi nhỏ, quản lý tốt vẫn hợp lý hơn nhiều so với nuôi diện tích lớn mà đầu tư không xứng tầm trong điều kiện Nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao tròn.

 

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm nước lợ thâm canh, bán thâm canh hạn chế dịch bệnh

nguồn: quy trình kỹ thuật này ban hành kèm theo Công văn số 298/TCTS-NTTS ngày 01 tháng 02 năm 2013 của Tổng cục Thủy sản

I. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG

– Cơ sở nuôi tôm nước lợ phải nằm trong vùng quy hoạch nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh của địa phương.

– Vùng nuôi phải có mương cấp, mương thoát nước riêng biệt đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho nhu cầu nuôi.
– Mỗi cơ sở nuôi phải có hồ lắng chiếm 15-20% diện tích mặt bằng để xử lý nước cấp và diệt tạp trước khi đưa vào hồ nuôi; có trang bị dụng cụ đo môi trường: pH, oxy, NH3, NO3, độ mặn,..

II. HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT:

2.1. Chuẩn bị hồ nuôi:

2.1.1. Cải tạo ao nuôi, ao lắng:

– Bước 1: Tháo cạn nước ao nuôi và ao lắng. Loại bỏ các địch hại có trong ao từ vụ nuôi trước (tôm, cua, ốc, côn trùng, cá tạp). Vét bùn đáy ao, tu sửa bờ, các cống cấp nước, thoát nước. San đáy ao dốc về phía cống thoát. Phải đầm nén kỹ bờ ao hoặc lót bạt để chống xói lở và hạn chế rò rỉ. Rào lưới quanh ao để tránh các loài ký chủ trung gian gây bệnh từ bên ngoài như: cua, còng, rắn.

– Bước 2: Rải vôi bột (vôi nung) liều lượng 20-30 kg/1.000m2 (pH đất >4) hoặc 30-40 kg/1000m2 (pH đất ≤4) đều đáy ao.

– Bước 3: Bừa kỹ cho vôi ngấm vào đáy để diệt hết tôm, cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp còn sót lại, diệt khuẩn trong bùn, giải độc (kim loại nặng, H2S) và trung hòa pH. Ao lót bạt đáy chỉ cần vệ sinh khử trùng.

– Bước 4: Phơi đáy ao khoảng 5-7 ngày.

Đối với những ao không phơi được: bơm cạn nước, dùng máy cào chất thải về cuối góc ao, bơm chất thải vào ao chứa thải, sau đó tiến hành bón vôi với liều lượng như bước 2.

Lưu ý: Sau mỗi vụ nuôi, phải phơi khô cứng nền đáy ao lắng, ao nuôi khoảng 1-2 tháng để ngắt vụ, tiêu diệt các mầm bệnh, khoáng hóa và phục hồi môi trường nền đáy.

2.1.2. Xử lý nước và lấy nước vào ao nuôi

– Bước 1: Lấy nước vào ao lắng qua túi lọc bằng vải dày nhằm loại bỏ rác, ấu trùng, tôm, cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp. Để lắng 3-4 ngày.

– Bước 2: Chạy quạt nước liên tục trong 2 – 3 ngày để kích thích trứng tôm, ốc, côn trùng, cá tạp nở thành ấu trùng.
– Bước 3: Diệt tạp, diệt khuẩn nước cấp trong ao lắng vào buổi sáng (8h) hoặc buổi chiều (16h) bằng Chlorine nồng độ 30 ppm (30kg/1.000m3 nước), hoặc những chất diệt tạp có tên trong Danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam (không dùng thuốc bảo vệ thực vật và các chất cấm).
– Bước 4: Quạt nước liên tục trong 10 ngày để phân hủy dư lượng Chlorine. Kiểm tra dư lượng chlorine trong nước bằng thuốc thử.
– Bước 5: Cấp nước từ ao lắng qua ao nuôi (qua nhiều lớp túi lọc bằng vải dày) đến khi mức nước trong ao nuôi đạt từ 1,3–1,5 m. Để lắng 2 ngày.

Lưu ý:

– Không diệt tạp trong ao nuôi.

– Không lấy nước vào ao lắng khi: i) nước ngoài kênh/mương có nhiều váng bọt, màng nhầy, nhiều phù sa; ii) nguồn nước nằm trong vùng có dịch bệnh; iii) nước có hiện tượng phát sáng vào ban đêm.

2.1.3. Gây màu nước:

Gây màu nước giúp phát triển vi sinh vật phù du, ổn định môi trường nước, tạo môi trường thuận lợi hạn chế tôm bị sốc, tăng tỉ lệ sống.

Hai ngày sau khi cấp nước vào ao nuôi, gây màu nước bằng cách:

Cách 1: bằng cám ủ (thành phần: cám gạo, bột đậu nành, bột cá phối trộn theo tỷ lệ 2:2:1. Nấu chín, ủ trong 2 – 3 ngày).

– Bước 1: Lúc 7-8h sáng: bón vôi đen Dolomite CaMg(CO3)2 hoặc vôi nông nghiệp CaCO3 liều lượng 100 – 150 kg/1000 m3.
– Bước 2: Lúc 10-12h trưa: bón cám ủ liều lượng 3 – 4 kg/1000m3.
Lặp lại 2 bước trên liên tục trong 3 – 5 ngày đến khi độ trong của nước đạt 30 – 40 cm.

Cách 2: bằng mật đường + cám gạo + bột đậu nành (tỷ lệ 3:1:3) ủ trong 12 giờ.

– Lúc 9-10 giờ sáng: bón mật đường + cám gạo + bột đậu nành đã qua ủ với liều lượng 2-3 kg/1.000m3 nước ao, tạt liên tục 3 ngày.
– Khi màu nước trong ao chuyển sang màu của tảo khuê (vàng hay nâu nhạt) hay màu xanh vỏ đậu thì tiến hành thả giống.
Đối với những ao khó gây màu nước, hay màu nước không bền nên bổ sung thêm các thành phần khoáng, Silic để giữ màu nước cho ao nuôi.
Có thể gây màu nước bằng chế phẩm vi sinh theo hướng dẫn của nhà sản xuất có uy tín để phân hủy mùn bã hữu cơ lơ lửng, xác tảo chết tích tụ do dùng hóa chất diệt khuẩn trước đó, tạo nguồn vi khuẩn có lợi giúp môi trường nuôi ổn định, tạo điều kiện cho tôm phát triển tốt ngay từ đầu.

Lưu ý:

– Không dùng phân vô cơ gây màu nước.
– Không diệt tạp trong hồ nuôi khi đã lấy nước.
– Kiểm tra và điều chỉnh các yếu tố môi trường nước ao nuôi đảm bảo trong ngưỡng thích hợp trước khi thả giống:

Yếu tố môi trường nước ao nuôi tôm Giới hạn tối ưu đối với tôm sú Giới hạn tối ưu đối với tôm chân trắng
Hàm lượng oxy hòa tan (DO) > 4 mg/l  >6 mg/l
pH  7,5 – 8,5 (dao động trong ngày không quá 0,5)  7,5 – 8,5 (dao động trong ngày không quá 0,5)
Độ mặn  15-25 ‰ 5-25 ‰
Độ kiềm 80 -120 mg/l 120-150 mg/l
Độ trong 30 – 40 cm  30 – 40 cm
NH3 < 0,1mg/l  < 0,1mg/l
H2S < 0,01 mg/l  < 0,01 mg/l

2.2. Quạt nước và thời gian chạy quạt nước

Bố trí hệ thống quạt nước và thời gian chạy quạt nước phải đảm bảo nhu cầu oxy cho tôm nuôi, đặc biệt thời điểm chiều tối/đêm/gần sáng khi hàm lượng oxy hòa tan giảm dần/xuống thấp nhất trong ngày.

Cần tăng cường thời gian chạy quạt hoặc bố trí thêm hệ thống quạt cho tôm nuôi, đặc biệt vào những thời điểm nắng nóng hoặc mưa kéo dài.

2.2.1. Vị trí đặt cánh quạt nước:

– Cách bờ 1,5 m.

– Khoảng cách giữa 2 cách quạt nước 60 – 80 cm, lắp so le nhau.
– Tùy theo hình dạng ao mà bố trí cánh quạt nước nhằm tạo được dòng chảy tốt nhất và cung cấp đủ nhu cầu oxy cho tôm nuôi.

2.2.2. Số lượng máy quạt nước:

– Đối với nuôi tôm sú:

Diện tích ao (m2)  Mật độ: 15 – 20 con Mật độ: 20 – 25 con  Tốc độ vòng quay (vòng/phút)
2.000 20 – 25 cánh 25-30 cánh 100 – 120
5.000 50 – 60 cánh 60 – 80 cánh 100 – 120

– Đối với nuôi tôm chân trắng: Tôm chân trắng đòi hỏi oxy rất lớn. Do đó, tùy theo mật độ thả nuôi có thể thiết kế hệ thống quạt nước bằng cánh quạt nhựa hoặc kết hợp cánh quạt nhựa và cánh quạt lông nhím hoặc các cánh quạt cung cấp oxy khác để cung cấp oxy cho ao nuôi. Vòng tua của cánh quạt nhựa nên >120 vòng/phút.

Diện tích ao (m2) Mật độ (con/m2)  Số lượng dàn quạt cánh Số lượng dàn quạt lông nhím
2.000 – 3000 30-60 4 dàn (10 cánh quạt/dàn) 1
60-100 4 dàn (10 cánh quạt/dàn) 2
4.000 – 5.000 30 – 60 6 dàn (10 cánh quạt/dàn) 2
60 – 100 6 dàn (10 cánh quạt/dàn) 3 – 4

2.3. Chọn và thả giống:

2.3.1. Chọn giống:

– Chọn mua tôm giống từ các cơ sở có uy tín, có phiếu xét nghiệm âm tính về các mầm bệnh MBV, đốm trắng, đầu vàng, taura, IMNV, hoại tử gan tụy …
– Cỡ giống: tôm sú P15 – P20, tôm thẻ chân trắng P12 trở lên.
– Kiểm tra sức khỏe tôm giống bằng cách gây sốc:
+ Sốc độ mặn: Lấy 40-50 con tôm giống cho vào cốc thủy tinh chứa 300 ml nước lấy từ bao vận chuyển giống. Hạ độ mặn đột ngột xuống còn 15‰ và theo dõi trong 30 phút, nếu tỷ lệ sống 100% là đạt yêu cầu.
+ Sốc bằng formol: Thả 40-50 tôm giống vào chén, cốc thủy tinh đựng dung dịch formalin nồng độ 100 ppm và theo dõi trong 30 phút, nếu tỷ lệ sống 100% là đạt yêu cầu.

2.3.2. Thả giống:

– Mật độ thả:
+ Tôm sú: Nuôi thâm canh 15-20 con/m2; nuôi bán thâm canh 8-14 con/m2.
+ Tôm chân trắng: 30 – 60 con/ m2 (đối với những hộ mới chuyển đổi) và 60 – 80 con/m2 (những hộ có kinh nghiệm và đủ điều kiện).
– Cách thả:
+ Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát.
+ Trước khi thả giống cần chạy quạt nước từ 8-12 giờ để đảm bảo lượng oxy hòa tan trong ao phải lớn hơn 4 mg/l.
+ Cân bằng nhiệt độ nước giữa bao giống và nước ao nuôi bằng cách thả nổi bao giống trên mặt hồ vài phút. Sau đó, cho nước từ từ vào đầy bao, cầm phía đáy bao từ từ dốc ngược để tôm giống theo nước ra ao nuôi.

2.4. Chăm sóc và quản lý:

2.4.1. Cho ăn:

Cho tôm ăn theo bảng hướng dẫn. Ngoài ra, tùy vào thực tế (sức khỏe của tôm, chu kỳ lột xác, thời tiết,…) và theo dõi sàng ăn/chài khi tôm từ 20 ngày tuổi trở lên để điều chỉnh, quản lý thức ăn cho phù hợp, tránh tình trạng cho ăn thiếu hoặc thừa thức ăn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và sức khỏe của tôm.
Cho ăn mỗi ngày 3 lần.

2.4.2. Lượng thức ăn

– Tháng nuôi thứ nhất: Sử dụng thức ăn cỡ nhỏ cho giai đoạn mới thả.

+ Ngày thứ 10 sau khi thả giống, cho ít thức ăn vào sàng/nhá/vó để tôm làm quen, dễ cho việc kiểm tra lượng thức ăn dư sau này. Sàng ăn đặt nơi bằng phẳng, cách bờ ao 1,5- 2 m, sau cánh quạt nước 12 – 15m, không đặt ở các góc ao, khoảng 1.600 – 2.000 m2 đặt 1 sàng.

+ Sau 15 ngày có thể sử dụng các chất bổ sung cung cấp vitamin, khoáng chất theo chỉ dẫn của nhà cung cấp giúp tôm tăng cường sức khỏe.
+ Tôm sú: Ngày đầu tiên cho 1,2 – 1,5 kg/100.000 giống, cứ 2 ngày tăng 0,2-0,3 kg/100.000 giống.
+ Tôm chân trắng: Ngày đầu tiên cho 2,8-3 kg/100.000 giống. Trong 10 ngày đầu tiên, cứ 1 ngày tăng 0,4 kg/100.000 giống. Từ ngày thứ 10-20, cứ 1 ngày tăng 0,5 kg/100.000 giống.

– Tháng nuôi thứ hai đến khi thu hoạch:

+ Điều chỉnh thức ăn trong ngày qua theo dõi lượng thức ăn thừa trên sàng ăn.

+ Chuyển đổi loại thức ăn phù hợp theo giai đoạn phát triển, cỡ miệng tôm và nhu cầu dinh dưỡng như hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì. Khi chuyển đổi thức ăn, nên trộn lẫn 2 loại thức ăn cũ và mới cho ăn ít nhất 3 ngày.

Cách điều chỉnh lượng thức ăn:

Kiểm tra thức ăn trong sàng/nhá Cách xử lý cho lần ăn tiếp theo
Nếu tôm ăn hết Tăng 5% thức ăn cho lần sau
Nếu thức ăn dư khoảng 10% Giữ nguyên thức ăn cho lần sau
Nếu thức ăn dư khoảng 11 – 25% Giảm 10% thức ăn cho lần sau
Nếu thức ăn dư khoảng 26 – 50% Giảm 30% thức ăn lần sau
Nếu thức ăn còn nhiều hơn 50% Ngưng cho ăn lần sau

 

Thời gian kiểm tra thức ăn trong nhá/sàng:

Thời gian nuôi (ngày) Thời gian kiểm tra sàng ăn (giờ)
21 – 60 2.5 – 2.0
61 – 90 2.0 – 1.5
>90 1.5 –1.0

Lưu ý:

– Những ngày thay đổi thời tiết, mưa, nắng gắt chỉ cho 70 – 80% lượng thức ăn đã định, tránh dư thừa gây ô nhiễm nước. Theo dõi kỳ lột vỏ để giảm lượng thức ăn và tăng sau khi tôm lột vỏ xong.

– Đối với các cơ sở nuôi tôm dùng thức ăn có chứa Ethoxyquin

+ Với hàm lượng ≤ 90 ppm: Chuyển sang dùng các loại thức ăn không chứa Ethoxyquin 04 ngày trước khi thu hoạch; Không dùng các loại thức ăn bổ sung như: Dầu gan mực, dầu cá hồi, bột mực, bột cá FMB 60, Fish meal 66%.

+ Với hàm lượng 90-120 ppm: Chuyển sang dùng các loại thức ăn không chứa Ethoxyquin 05 ngày trước khi thu hoạch; Không dùng các loại thức ăn bổ sung như: Dầu gan mực, dầu cá hồi, bột mực, bột cá FMB 60, Fish meal 66%.
+ Với hàm lượng 120-150 ppm: Chuyển sang dùng các loại thức ăn không chứa Ethoxyquin 06 ngày trước khi thu hoạch; Không dùng các loại thức ăn bổ sung như: Dầu gan mực, dầu cá hồi, bột mực, bột cá FMB 60, Fish meal 66%.

2.4.3. Quản lý môi trường ao nuôi:

– DO, pH, độ trong (đo hằng ngày); độ kiềm và NH3 (3-5 ngày đo 1 lần).

– pH và độ kiềm là hai yếu tố quan trọng tác động đến đời sống của tôm. Khi pH và độ kiềm thay đổi ngoài khoảng thích hợp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tôm nuôi.
+ Khắc phục tình trạng pH thấp: gây tảo và giữ màu nước thích hợp đảm bảo độ trong đạt từ 30 – 40 cm. Trong quá trình nuôi nếu pH < 7,5 cần bón vôi (CaCO3, Dolomite) với liều 10 – 20 kg/1000 m3 nước.
+ Khắc phục tình trạng pH cao: sử dụng mật đường 3kg/1000 m3 kết hợp sử dụng vi sinh hoặc dùng Acid acetic 3lít/1000 m3.
+ Khắc phục độ kiềm thấp: sử dụng Dolomite 15-20kg/1000 m3 vào ban đêm cho đến khi đạt yêu cầu.
+ Khắc phục độ kiềm cao: sử dụng EDTA 2-3 kg/1000 m3 vào ban đêm.

Tùy vào tình hình thực tế môi trường ao nuôi mà điều chỉnh và bón lượng vôi cho phù hợp.

– Định kỳ bón vôi nông nghiệp CaCO3 10 ngày/lần vào lúc 20-21h với liều lượng dao động từ 10-20 kg/1.000 m3 tùy theo độ mặn để điều chỉnh pH thích hợp:
+ Nếu độ mặn dưới 17‰ thì điều chỉnh pH từ 8,2 – 8,4;
+ Nếu độ mặn trên 17‰ thì điều chỉnh pH giảm dần xuống 8,0 – 8,2;
+ Nếu độ mặn = 25‰ thì điều chỉnh bằng 7,7 – 7,8.

Đến 11-12h trưa ngày hôm sau, cấy vi sinh theo chỉ dẫn của nhà cung cấp (sản phẩm có uy tín, thương hiệu) để làm sạch môi trường.

– Nếu độ mặn giảm đột ngột do mưa thì phải điều chỉnh bằng nước ót (nước muối) hoặc bổ sung muối hột.

– Khi tảo trong ao phát triển mạnh, màu nước thay đổi, pH dao động trong ngày >0,5, cần:

+ Thay tối thiểu 30% lượng nước trong ao;
+ Hòa tan 2-3 kg đường cát/1000 m2 và tạt đều ao vào lúc 9 – 10 giờ sáng.
+ Chạy cánh quạt, sục khí liên tục trong vài giờ.

– Khi nhiệt độ nước ao tăng trên 340C:

+ Cần giảm thức ăn;
+ Bổ sung vitamine C (trộn vào thức ăn);
+ Tăng thời gian chạy quạt nước, sục khí;

– Khi nhiệt độ nước ao giảm xuống dưới 240C, có hiện tượng tôm vùi đầu, phải giảm thức ăn và tăng đề kháng ngay.

– Hạn chế lấy nước vào ao nuôi, khi cần thiết thì lấy nước vào ao lắng rồi xử lý Chlorine liều 30kg/1000m3 chạy quạt liên tục, đến khi hết dư lượng Chlorine thì tiến hành bơm vào ao nuôi (qua túi lọc).
– Trong quá trình sinh trưởng, tôm cần rất nhiều khoáng nên cần duy trì độ kiềm từ 120 mg/lít trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3 hoặc Dolomite và thường xuyên bổ sung khoáng cho ao nuôi vào ban đêm 3 – 5 ngày/lần giúp tôm nhanh cứng vỏ và lột xác đồng loạt.
– Chỉ diệt khuẩn khi cần thiết (tránh những trường hợp như: tôm đang suy yếu, đang trong quá trình lột xác hay có các biểu hiện về bệnh gan…).
Lưu ý:

– Hạn chế sử dụng men vi sinh trong giai đoạn đầu (giai đoạn tôm mới thả đến 1,5 tháng tuổi).

– Tháng thứ nhất: Giữ màu nước hồ nuôi thích hợp (xanh nõn chuối) tạo sự ổn định các chỉ số môi trường pH, kiềm, nhiệt độ, oxy hoà tan,.. tránh sinh tảo đáy hoặc tảo phát triển quá mức.
– Tháng thứ 2:
+ Giữ màu nước thích hợp (xanh nâu, đục), mực nước sâu 1,2-1,8 m để sự dao động về nhiệt độ, oxy hoà tan, pH giữa ban ngày và ban đêm diễn ra chậm không gây sốc cho tôm. Duy trì các yếu tố thích hợp độ trong từ 30 – 40cm; độ kiềm 80 -120; độ mặn từ 15-25 ‰; pH từ 7,5 – 8,5; Oxy hòa tan > 4 mg/lít; H2S < 0,01 mg/l; NH3 < 0,1mg/l.
+ Định kỳ 20 – 25 ngày xử lý nước và đáy hồ bằng chế phẩm sinh học theo hướng dẫn của nhà cung cấp.
+ Quạt nước, sục khí bổ sung oxy từ 19h00 đến 05h00 sáng hôm sau.
+ Có thể bổ sung thuốc bổ, thuốc đường ruột, các loại khoáng, trộn vào thức ăn cho tôm ăn theo hướng dẫn của các nhà cung cấp có thương hiệu, uy tín để tăng cường sức đề kháng.

2.5. Thu hoạch:

Tùy theo giá cả mà người nuôi chọn thời điểm thu hoạch cho phù hợp khi tôm đạt kích cỡ. Trước khi thu hoạch cần theo dõi chu kỳ lột xác của tôm và hạn chế thu khi tôm còn mềm vỏ để tránh tình trạng tôm bán bị rớt giá.

Hướng dẫn cách thả tôm giống an toàn & đạt tỷ lệ sống cao

Hướng dẫn cách thả tôm giống an toàn & đạt tỷ lệ sống cao

Nguồn: KS. Nguyễn Văn Thành, Vinh Thinh Biostadt, 05/10/2015

Để có một vụ nuôi tôm thành công, bên cạnh các yếu tố về chất lượng con giống, kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi, kỹ thuật chăm sóc … thì kỹ thuật thả giống cũng đóng một vai trò không kém phần quan trọng. Thả giống đúng phương pháp sẽ giúp tôm giống khỏe mạnh khi ra môi trường ao nuôi, đó là khởi đầu cho quá trình sinh trưởng và phát triển thuận lợi của tôm con.

Phương pháp thả tôm giống đúng cách cần phải thực hiện đầy đủ các công đoạn: lựa chọn vị trí thả giống phù hợp, chuẩn bị đón tôm giống, thuần môi trường và thả tôm giống ra ao nuôi.

1. Lựa chọn vị trí thả giống phù hợp

  • Chọn vị trí thả giống phù hợp dựa trên các mục tiêu: đảm bảo thuận lợi cho hoạt động thả tôm giống và đúng cơ sở khoa học về các điều kiện thủy lý.
  • Vị trí thả giống phải rộng, bằng phẳng và gần đường cơ giới (đường mà xe chở giống có thể tới): những vị trí này sẽ giúp cho hoạt động đón tôm, chuyển tôm, thả tôm … được thuận lợi, nhanh chóng, rút ngắn thời gian thả tôm.
  • Vị trí thả giống phải nằm đầu hướng gió nhằm mục đích: nguồn nước ở khu vực này sạch hơn (các chất bẩn không bị gom vào đây do gió), tôm giống sau khi thả ra ao sẽ phân tán nhanh hơn nhờ gió.
  • Vị trí thả tôm phải gần dàn quạt nước: những vị trí này có hàm lượng oxy hòa tan cao, đồng thời sẽ giúp tôm giống phân tán nhanh hơn khi thả.
  • Ngoài ra, vị trí thả giống cần đảm bảo một số yếu tố như bờ ao vững chắc (tránh bị sạt lở làm đục nước khi thả giống), dễ bố trí khung giữ bọc tôm (nếu thả trực tiếp) …

2. Chuẩn bị đón tôm giống

Để hoạt động thả giống diễn ra thuận lợi, nhanh chóng giúp tôm giống khỏe mạnh khi thả thì công tác chuẩn bị phải hết sức kỹ lưỡng và chu đáo.

  • Chuẩn bị đủ nhân lực cho hoạt động thả giống, có thể tính toán dựa trên số lượng giống thả và khoảng cách từ vị trí xe chở giống tới ao nuôi.
  • Chuẩn bị vị trí thả tôm thuận lợi như đã trình bày ở phần 1.
  • Thu dọn, vệ sinh khu thả giống sạch sẽ, an toàn.
  • Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ thuần tôm giống (bể thuần tôm, máy thổi khí, ống thả tôm, thức ăn tôm…) hoặc chuẩn bị khung tre trong ao tôm (ngay vị trí thả tôm) để giữ các bọc tôm nếu thả thẳng.
  • Chuẩn bị một số sản phẩm bổ sung giúp chống sốc và phục hồi nhanh sức khỏe tôm giống như: khoáng, vitamin C, vitamin tổng hợp …
  • Chuẩn bị một số dụng cụ kiểm tra môi trường nước trong bọc tôm và trong ao nuôi trước khi thả như: Test Kiềm, Test pH, nhiệt kế, dụng cụ đo độ mặn …
  • Kiểm tra các yếu tố môi trường nước trong ao nuôi (pH, kiềm, độ mặn …).

3. Thuần môi trường nước trước khi thả giống

Thông thường các yếu tố môi trường nước ở trại giống rất khác so với tại ao nuôi (pH, kiềm, độ mặn …), đặc biệt là nhiệt độ nước trong quá trình vận chuyển giống rất thấp so với nhiệt độ nước ao nuôi (nhiệt độ nước vận chuyển tôm giống thường khoảng 22 – 23oC). Những thay đổi đột ngột các yếu tố môi trường nước sẽ làm rối loạn các chức năng sinh lý trong cơ thể tôm giống, gây sốc, yếu, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và có thể gây chết (làm giảm tỉ lệ sống). Vì vậy, công tác thuần môi trường đóng vai trò rất quan trọng, là bước trung gian giúp tôm giống làm quen với môi trường hoàn toàn mới.

Để thực hiện tốt việc thuần môi trường nước trước khi thả nuôi, người nuôi cần:

  • Thực hiện tốt công tác chuẩn bị như đã trình bày ở phần 2, các dụng cụ thuần cần được vệ sinh sạch sẽ đảm bảo an toàn sinh học.
  • Mật độ tôm trong bể thuần nên từ 300 – 500 PL/ lít nước.
  • Cho toàn bộ tôm giống vào bể thuần, mở sục khí liên tục để đảm bảo cung cấp đủ oxy.
  • Kiểm tra các yếu tố môi trường nước trong bọc tôm giống (nhiệt độ, pH, kiềm, độ mặn) và so sánh với các thông số này ở ngoài ao nuôi.
  • Châm nước mới từ ao nuôi từ từ vào bể thuần để cân bằng nhiệt độ và các yếu tố môi trường. Tốc độ châm nước nhanh hay chậm tùy thuộc vào sức khỏe tôm giống và mức độ chênh lệch các yếu tố môi trường giữa ao nuôi so với trong bọc tôm giống. Ví dụ: tôm giống khỏe mạnh, linh hoạt, mức độ chênh lệch các yếu tố môi trường (đặc biệt là nhiệt độ và pH) giữa ao nuôi và nước trong bọc tôm thấp thì có thể châm nước nhanh hơn…
  • Cho tôm giống ăn liên tục trong quá trình thuần giúp tôm nhanh hồi phục và không cắn nhau. Thức ăn sử dụng tốt nhất là EZ Artemia (thức ăn dinh dưỡng cao thay thế trứng artemia từ tập đoàn Zeigler – Hoa Kỳ) hoặc artemia sống. Lượng thức ăn sử dụng cho thuần tôm khảng 100g/100,000 PL (thời gian thuần 3 giờ) chia ra làm nhiều cử ăn (30 phút cho ăn một cử).
  • Tạt vitamin C (5ppm) và vitamin tổng hợp (1ppm) vào bể thuần để giúp tôm nhanh phục hồi, giảm stress.
  • Thời gian thuần tôm giống tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe tôm giống lúc chuyển về và mức độ chênh lệch các yếu tố môi trường nước (đặc biệt là nhiệt độ và pH) giữa ao nuôi và nước trong bọc tôm giống, cụ thể:
  • Sau khi cân bằng các yếu tố môi trường nước, tôm giống hoạt động mạnh thì tiến hành thả tôm ra ao nuôi. Cách thả giống ra ao: mở van xả thẳng tôm ra ao hoặc sử dụng ống gân hút tôm từ bể thuần ra ao nuôi

4. Phương pháp thả thẳng tôm giống ra ao nuôi, không qua công đoạn thuần môi trường.

Đây là phương pháp đơn giản, thường được người nuôi áp dụng khi thả tôm giống. Để thực hiện phương pháp này cần phải đảm đảm tôm giống có sức khỏe tốt, không có chênh lệch quá lớn các yếu tố môi trường nước giữa ao nuôi và bọc tôm giống (nhất là pH và độ mặn) và đặc biệt phải cân bằng nhiệt độ nước giữa bọc tôm và ao nuôi.

Các bước thực hiện phương pháp này như sau:

  • Thực hiện tốt các công tác chuẩn bị như đã trình bày ở phần 2 (lưu ý không cần chuẩn bị bể thuần, máy sục khí cũng như thức ăn cho thuần môi trường).
  • Bố trí khung tre trong ao ngay khu vực thả để giữ các bọc tôm giống.
  • Chạy quạt nước trước khi thả giống khoảng 3 – 4 giờ để tăng cường oxy hòa tan trong nước.
  • Tạt khoáng tại khu vực thả tôm khoảng 30 phút trước khi thả.
  • Khi tôm giống về tới ao, cho toàn bộ bọc tôm giống vào khung tre đã bố trí, giữ trong vòng 15 – 30 phút để cân bằng nhiệt độ (thời gian thuần nhiệt độ tùy thuộc vào sức khỏe tôm giống và mức độ chênh lệch nhiệt độ giữa bọc tôm và nước ao nuôi).
  • Sau khi nhiệt độ đã cân bằng, tiến hành thả tôm giống ra ao nuôi, tạt 5ppm vitamin C ngay tại khu vực thả tôm để giúp tôm giống nhanh hồi phục và chống sốc. Có thể bổ sung thêm khoáng tại thời điểm thả giống.

Lưu ý không nên lội xuống ao mà nên sử dụng xuồng để thả, tránh làm đục nước tại khu vực thả giống và không đảm bảo an toàn sinh học.

Tham khảo thêm biện pháp Cách Giảm Giá Thành Nuôi Tôm Sú

Tiêu chuẩn chọn tôm sú giống

Tôm sú Penaeus monodon

Kỹ thuật nuôi Tôm sú

TIÊU CHUẨN CHỌN TỐM SÚ GIỐNG

Tôm giống tốt là yếu tố rất quan trọng để đạt năng suất cao trong khi nuôi và phòng tránh được các loại bệnh gây ra cho tôm.

Tiêu chuẩn lựa chọn:

– Con giống phải đồng đều, cùng kích cỡ, khoảng 12mm.

– Tôm sú có 6 đốt ở bụng, các đốt này càng dài càng tốt và tôm sẽ lớn nhanh. Tôm có đuôi, râu hình dáng chữ V và góc hai râu sát nhau như góc chữ V là tôm khoẻ.

– Các chân ở phần đuôi gọi là chân đuôi hay đuôi, khi bơi xoè rộng, khoảng cách giữa 4 chân ở phần đuôi càng xa càng tốt…

– Cơ thịt bụng tôm co đều đặn, căng bóng mới tạo được dáng vẻ đẹp cho tôm.

– Không có vật lạ như nấm, vi khuẩn, hay nguyên sinh động vật bám ở chân, bụng, đuôi, vỏ và mang tôm. Những vật lạ này sẽ làm tôm bị ngạt và không lột xác được.

– Màu sắc tôm tươi sáng, vỏ mỏng, có màu tro đen đến đen, đầu thân cân đối là con giống tốt.

– Tôm bơi ngược dòng rất khoẻ khi đảo nước trong chậu hoặc bám chắc khi bị dòng nước cuốn đi. Nếu có 10 trong số 200 con thả mà trôi theo dòng nước là giống tôm yếu, tôm xấu. Tôm phàm ăn, ăn tạp, chân ngực bắt giữ mồi tốt là con giống tốt.

– Tôm có khả năng chịu đựng tốt khi dùng formol. Số tôm bị chết ít (5/150 con) khi dùng formol 1cc/10 lít nước, đó là giống tốt.

Sau khi chọn lựa tôm giống theo các tiêu chuẩn trên, trước khi thả tôm vào ao, phải tắm vô trùng cho tôm rồi thả tôm giống vào ao hoặc ương tiếp 15- 20 ngày, sau đó tuyển chọn tiếp lần nữa mới thả nuôi sẽ đảm bảo hơn.

Tuyển chọn lại những con tôm khoẻ, xoè đuôi ra hết cỡ khi bơi. Những con thích bơi ngược dòng nước thả vào ao là tốt nhất. Mật độ thả trung bình 5- 7 con/m2 với nuôi quảng canh và 30 – 50 con nếu nuôi thâm canh.

NTNN, 8/9/2003

CÁCH CHỌN TÔM SÚ GIỐNG TỐT

Chuyên trang đồng bằng sông Cửu Long có nhận được thư của ông Trần Văn Phú (xã Vĩnh Tiến – Vĩnh Châu – Sóc Trăng), ông Trần Mạnh Giỏi (xã An Minh Bắc – huyện An Minh – Kiên Giang), ông Lê Hoài Vọng (Thạnh Phú – Bến Tre), chị Trần Thị Diệu (thị trấn Mỹ Long – Cầu Ngang – Trà Vinh). Bà con hỏi: Làm thế nào để biết con tôm sú giống tốt? Xin trả lời:

Với những “đại gia” nuôi tôm công nghiệp (như Công ty SEACO Sóc Trăng của anh em ông Lưu Thống Nhứt với cả ngàn hécta mặt nước) thì họ đầu tư rất nhiều công sức, tiền bạc cho việc chọn lựa tôm sú giống, từ lấy vài chục mẫu ở các cơ sở nổi tiếng, gởi cơ quan chuyên môn kiểm định nghiêm ngặt đến đặt hàng, tổ chức vận chuyển về điểm nuôi v.v… Riêng bà con nuôi qui mô nhỏ (dù mô hình công nghiệp hay quảng canh, tôm-lúa…) ít điều kiện hơn có thể làm theo cách sau để tìm mua tôm sú giống đáng tin cậy hầu giảm rủi ro.

1- Tuyệt đối không mua tôm giống trôi nổi của những người không có giấy phép hành nghề cung cấp tôm sú giống. Không mua tôm sú giống của những điểm cung cấp có giấy phép nhưng “lô hàng” đang chào bán lại không chứng minh được đã qua sự kiểm dịch và đồng ý cho phân phối của cơ quan chuyên môn.

2- Quan sát thấy tôm sú giống tỏ ra linh hoạt, khỏe mạnh, phân bổ đều trong bể nuôi, hình dáng thon dài, ruột đầy thức ăn (khả năng bắt mồi tốt), tỉ lệ tòe đầu nhỏ hơn 10%. 3- Kiểm tra khả năng thích nghi trong môi trường thay đổi nồng độ mặn bằng cách thả một ít tôm giống vào nước đã giảm một nửa độ mặn thông thường. Sau 1-2 giờ nếu thấy số tôm giống bị “sốc” chết chỉ chiếm từ 0 – 10% (tốt), 11-35% (khá), trên 35% là tôm giống không tốt.

Đối với tôm giống kém chất lượng, nhiều nơi thương lái đưa ra “chiêu”: cho nợ 50% tới khi thu hoạch mới thanh toán dứt điểm. Xin bà con đừng ham rẻ vì công sức, tiền của bỏ ra lớn nhưng kết quả rất có thể là trắng tay, hoặc chỉ vừa đủ trả 50% tiền nợ còn lại! Tôm chết rồi, thương lái có nhiều lý do đổ thừa mà cách dễ nhất là đổ thừa cho… ông Trời: “Thời tiết không thuận lợi”.

 

Kinh nghiệm chọn và thả tôm giống

nguồn : thủy sản Việt Nam
 Chất lượng tôm giống và cách thả tôm giống ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng tôm thương phẩm. Tuy nhiên để chọn được tôm giống chất lượng và thả đúng kỹ thuật người nuôi cần lưu ý những yếu tố sau:

Chọn tôm giống

Kiểm tra tôm bằng phương pháp cảm quan: Tôm có kích cỡ đồng đều, hệ số chênh lệch không vượt quá 5%, chiều dài >12cm. Màu sắc tôm tươi sáng, màu xám hoặc vàng xám (màu da bò), đầu thân cân đối, đuôi tôm xòe ra là con giống tốt. Dùng tay gõ nhẹ vào thành dụng cụ chứa tôm, nếu tôm phản ứng nhanh thì đàn tôm đó khỏe. Tôm bột không khỏe sẽ bơi lờ đờ, không phản ứng và bơi lội cong vẹo. Có thể cho tôm giống vào thau dùng tay khuấy đều, tôm khỏe thường bơi ngược dòng hoặc bám xung quanh thành thau, tôm yếu thường tụ lại ở giữa.

Nếu có kính lúp, lấy ngẫu nhiên khoảng 15 con tôm giống trong cùng một bể lên soi. Nếu thấy gan tụy, ruột nhỏ hoặc không có thức ăn, có các sinh vật bám vào thân, chân tôm hay có những con bị gãy râu, gẫy chân thì mẻ đó có chất lượng không tốt.

Có thể chọn tôm bằng phương pháp gây sốc cho tôm bằng cách dùng Formalin test 100 – 150 ppm, hoặc hạ đột ngột độ mặn 15 ppt. Loại A 90 – 100% tôm còn sống, loại B 80 – 89 % còn sống, loại C <79% tôm còn sống sót.

Nếu có điều kiện tốt nhất người nuôi đem tôm đi để kiểm tra bằng phương pháp PCR để xác định tôm giống không nhiễm mầm bệnh.

 

Cách thả

Nên thả giống vào lúc trời mát. Cân bằng độ mặn trước khi vận chuyển để có độ mặn tương đồng và nhiệt độ phải cân bằng giữa hai môi trường. Tôm giống thả đầu hướng gió để tôm phân tán khắp ao. Có hai cách thả tôm giống an toàn:

Cách 1: Bao tôm mới vận chuyển về thả trên mặt ao khoảng 15 – 30 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong và ngoài bao. Sau đó mở miệng bao ra, tạt từ từ nước ngoài ao vào trong bao, sau đó mở dần miệng bao để tôm bơi ra. Khi thả tránh lội xuống ao làm đục nước ao.

Cách 2: Chuẩn bị một số thau lớn khoảng 20 lít và máy sục khí. Đổ bao tôm vào thau khoảng 10.000 con/thau và sục khí. Cho thêm nước ao nuôi vào thau từng ít một để tôm thích nghi dần. Sau khoảng 15 – 30 phút nghiêng thau để tôm bơi ra từ từ. Một số dấu hiệu để nhận biết tôm khỏe là thích nghi với môi trường nước khi thuần tôm trong thau, không có hoặc ít tôm chết. Tôm bơi lội linh hoạt, bám vào thành thau. Tôm khỏe sau khi thả trong ao bơi chìm không nổi trên mặt nước.

>> Khi thả giống phải lưu ý đến thời tiết. Không nên thả giống vào trời mưa và trước khi mưa. Khi mưa các yếu tố môi trường nước biến đổi nhanh, tôm giống mới thả đang yếu khó thích nghi dẫn đến tình trạng hao hụt nhiều.

Nuôi gà ta thả vườn kiếm tiền tỷ

nguồn: nong-dan.com
Nuôi gà ta thả vườn kiếm tiền tỷ
Gà ta là giống gà được chăn nuôi rất phổ biến có hiệu quả kinh tế cao. Để chăn nuôi cho đứng phương pháp và đạt năng xuất cũng như hiệu quả tốt mời bà con tham khảo kĩ thuật chăn nuôi.

Giống: Gà ta ở miền Bắc phổ biến rộng rãi có gà Ri, thịt thơm ngon, sản lượng trứng 80-100 quả/năm; khối lượng trứng 42-43g. Gà trưởng thành trống nặng 1,8-2,5kg, mái nặng 1,3-1,8kg.

Gà Đông Tảo (Khoái Châu-Hưng Yên) sản lượng trứng 55-60 quả/năm, trứng nặng 55-57g. Gà trưởng thành trồng nặng 3,5-4kg, mái nặng 2,5-3kg.

Gà Hồ (Bắc Ninh), gà Mía (Hà Tây), gà Phù Lưu Tế (Mỹ Đức-Hà Tây) có năng suất tương tự như gà Đông Tảo. Gà Văn Phú chân chì (Phú Thọ) sản lượng trứng cao hơn gà Đông Tảo nhưng khả năng cho thịt kém hơn.

Đặc điểm chung của gà ta là thịt thơm ngon, lòng đỏ trứng to (34-35% khối lượng trứng) chịu đựng tốt nhưng năng suất thấp.

Úm gà: Là giai đoạn nuôi bộ gà con từ 1 ngày tuổi đến 2 tuần tuổi (mùa hè) và 3 tuần tuổi (mùa đông). Chuẩn bị rửa sạch nền chuồng, sát trùng bằng phoóc môn hoặc Crêzin. Dùng cót tre cao 45cm quây tròn có đường kính 2-4m tuỳ theo số lượng gà định úm. Chất độn trong cót bằng trấu, hoặc rơm khô cắt ngắn 5cm. Tốt nhất là dùng phoi bào rải dày 10-15cm. Nguồn sưởi cho gà có thể dùng bóng đèn 75-100w treo giữa quây cót, cách mặt nền khoảng 50cm. Trên bóng có chụp đèn bằng tôn hình nón 80cm để giữ nhiệt. Nguồn nhiệt sưởi có thể dùng bếp than, bếp trấu, nhưng phải có hệ thống để dẫn khí CO2ra ngoài phòng. Nếu còn lạnh có thể phủ thêm bao tải trên cót.

Mật độ nuôi: Mùa thu đông: 1-10 ngày tuổi nhốt 40-50 con/m2; 11-30 ngày tuổi nhốt 20-25 con/m2; 31-45 ngày tuổi nhốt 15-20 con/m2; 46-60 ngày tuổi nhốt 12-15 con/m2; Gà dò 10-15 con/m2; Gà sinh sản 4-5 con/m2. Mùa hè nóng nực có thể giảm 10% số lượng gà.

Nhiệt độ sưởi: 1-3 tuần nhiệt độ sưởi là 30-320C; 3-6 tuần nhiệt độ sưởi là 25-280C; 6-8 tuần nhiệt độ sưởi 20-220C. Sau 8 tuần nhiệt độ thích hợp là 18-200C. Thường xuyên quan sát đàn gà. Nếu gà tụm lại xung quanh nguồn nhiệt, kêu chiêm chiếp không ăn là thiếu nhiệt; Gà tản ra xa nguồn nhiệt, nằm bẹp, há miệng thở là thừa nhiệt, nóng quá. Gà chụm lại một góc thì phải quan sát xem có gió lùa vào phòng hay không. Gà đi lại nhanh nhẹn, ăn uống bình thường là nhiệt thích hợp. Điều chỉnh nhiệt bằng cách giảm cường độ bóng điện hoặc nâng, hạ bóng điện lên xuống.

Độ ẩm: Độ ẩm thích hợp là 60-65%. Nếu chất độn chuồng bị ướt phải thay ngay.

Ánh sáng: Dùng bóng điện treo cao cách nền chuồng 2,5m với cường độ ánh sáng tuỳ theo tuổi gà: Tuổi 1-20 ngày cường độ điện 5w/m2; 21-40 ngày cường độ điện 3w/m2; 41-66 ngày cường độ điện 1,4w/m2. Thời gian chiếu sáng: 1-2 tuần đầu chiếu 24/24 giờ, sau đó cứ mỗi tuần giảm 20-30 phút. Nước ta thuộc miền nhiệt đới, về mùa hè gà có thể tận dụng ánh sáng thiên nhiên. Mùa đông âm u, đêm dài ngày ngắn nên bổ sung thêm ánh sáng trong chuồng để gà đẻ sớm và đẻ rộ.

Thức ăn: Lượng thức ăn một ngày đêm: 1-10 ngày tuổi cho ăn 6-10g/1 con; 11-30 ngày tuổi cho ăn 15-20g; 31-60 ngày tuổi cho ăn 30-40g. Gà dò 61-150 ngày cho ăn 45-80g/con. Gà sinh sản: gà mái 100g/con, gà trống 110g. Số bữa ăn đối với gà con là 6 bữa/ngày đêm, gà dò và gà mái sinh sản 2-3 bữa/ngày đêm.

Gà ta thường nuôi thả hoặc bán chăn thả. Nếu vườn thả rộng, dồi dào thức ăn (rau, cỏ, giun, dế, cào cào,…) thì nên bớt lượng thức ăn tinh. Quan sát diều gà buổi chiều trước lúc vào chuồng để biết gà no hay đói, cần cho ăn thêm nhiều hay ít và chú ý phòng bệnh cho gà.

Nuôi gà thu 1,2 tỷ đồng/năm
rang trại nuôi gà rộng 3ha của gia đình anh Dương Văn Hiệp, thôn Ba Gò, xã Trung Mỹ (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) nằm khuất sâu bên trong khu đất đồi bỏ hoang của xã.

Anh Hiệp kể: “Tôi vốn là người ở thôn Tích Trung lấy vợ ở thôn Ba Gò (cùng thuộc xã Trung Mỹ). Tôi đi làm thuê khắp nơi nhưng thu nhập chẳng đáng là bao”…Thấy gia đình bên vợ có diện tích đất đồi rộng nhưng lại để hoang, anh Hiệp nảy ra ý định chăn nuôi. Qua tìm hiểu địa hình, anh thấy nuôi gà là thích hợp nhất. Vậy là anh bàn bạc với vợ, hỏi ý kiến bố vợ và nhận được sự đồng ý.

Đầu năm 2012, anh Hiệp cùng với vợ ra cải tạo khu đất đồi, quây tường bao rồi xuống tận trại giống ở Thụy Phương (Từ Liêm, Hà Nội) mua 500 con gà ta lai về nuôi. “Thắng lợi đâu chưa thấy, tôi đã gặp ngay “quả đắng” khi chưa có kinh nghiệm chăn nuôi, thiếu kỹ thuật nên đàn gà gặp dịch bệnh, thiệt hại 5-6 tạ thịt”- anh Hiệp nhớ lại.Tưởng chừng sau cú vấp ngã ban đầu, anh Hiệp sẽ từ bỏ ý định làm giàu từ con gà, nhưng được vợ và nhất là bố vợ ủng hộ một phần vốn, anh quyết tâm nuôi lại từ đầu. Lần này, anh đầu tư mạnh tay hơn trước, nuôi 1.000 con. Để không gặp thất bại như trước, anh Hiệp tìm đọc thêm tài liệu hướng dẫn về cách nuôi gà. Và thành công đã đến với anh.

Tiền lãi thu được, anh tiếp tục mua thêm gà giống về nuôi, đồng thời xây dựng hoàn thiện hệ thống chuồng trại. Hiện nay đàn gà của gia đình anh Hiệp đã lên tới 3.000 con.

“Nuôi gà quan trọng nhất là khâu tiêm phòng dịch. Ngoài ra phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, cho ăn đúng yêu cầu kỹ thuật thì đàn gà mới sinh trưởng và phát triển tốt được” – anh Hiệp chia sẻ kinh nghiệm.

Trung bình mỗi năm anh nuôi 4 lứa gà, xuất 5-6 tấn/lứa. Với giá bán trung bình 55.000 đồng/kg, anh Hiệp cho biết, mỗi năm doanh thu của trang trại đạt gần 1,2 tỷ đồng.

 

 

Mô hình chăn nuôi lợn

Nguồn: thitruongnongnghiep
Học cách làm chuồng chăn nuôi heo thịt

 

chuong-heo.thit
Các lưu ý khi làm chuồng nuôi heo thịt

 

Chăn nuôi heo thịt là một trong những hình thức phổ biến ở nông thôn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, nếu muốn thành công, bên cạnh các yếu tố như giống heo, thức ăn cho heo, việc làm chuồng heo đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Dưới đây là cách thực hiện chi tiết mà các bạn có thể tham khảo.

1. Nền chuồng

Không chỉ riêng với heo mà với hầu hết các loại hình chăn nuôi khác, chuồng nuôi đều phải được xây thông thoáng, với nền cao, sạch sẽ cũng như dễ làm vệ sinh bằng cách lót màng chống thấm HDPE. Bạn nên thiết kế nền chuồng heo cao hơn mặt đất khoảng 20-25 cm, tráng xi măng hơi nhám, lót màng chống thấm HDPE giúp giữ vệ sinh tốt và tránh ẩm mốc gây hại cho vật nuôi

Ngoài ra, bạn cũng nên lưu ý đặt nền chuồng có độ nghiêng 1 – 2% về phía cống thoát, giúp nước chảy nhanh, mau ráo mỗi khi dọn dẹp chuồng.

2. Vách và cửa chuồng

Nếu chăn nuôi lợn thịt với số lượng lớn, giữa các chuồng cần phải có vách ngăn. Vậy lựa chọn vách ngăn với thiết kế như thế nào sao cho hợp lý là điều không phải ai cũng biết.

Để tạo môi trường thông thoáng, bạn hãy sử dụng vách làm từ song sắt với chiều cao từ 0,8 đến 1m. Nếu muốn sử dụng vách bằng gạch, bạn nên để những khe hở để gió có thể luồn qua.

Với vách là như vậy, còn với cửa chuồng thì sao? Bạn nên thiết kế cửa chuồng rộng để thuận lợi cho việc chăn nuôi, nhất là khi đóng mở và di chuyển heo. Ngoài ra, một trong những đặc trưng của heo là có thói quen cắn phá cửa. Vì vậy, chất liệu sắt sẽ là lựa chọn tốt nhất.

3. Diện tích chuồng

Diện tích chuồng chăn nuôi heo thịt có sự thay đổi theo từng thời kỳ sinh trưởng của heo. Vì vậy, để đảm bảo cho heo phát triển tốt nhất, bạn nên thiết kế chuồng hơi rộng để sử dụng lâu dài. Trung bình diện tích dành cho heo thường là 0,8 – 1 m2/con.

Tùy vào quy mô chăn nuôi mà các bạn có thể xây chuồng với số lượng nhiều hay ít. Để tiện lợi cho việc chăm sóc, bạn nên xây dựng 1 dãy chuồng có hành lang và hệ thống mương thoát nước ở phía sau. Tuy nhiên, nếu diện tích đất vuông, bạn có thể thiết kế hai dãy chuồng song song cũng vô cùng hợp lý.

Lót sàn nên lựa chọn màng chống thấm HDPE độ dày 0,3 mm hoặc 0,5 mm. Lót phủ toàn bộ diện tích chuồng. Tác dụng chống thấm, ẩm mốc, vi sinh vật gây hại. Dễ dàng vệ sinh, lau chùi, di chuyển.

4.  Mái chuồng

Với mái chuồng chăn nuôi heo, bạn nên lựa chọn chất liệu như lá, tranh vừa tiết kiệm chi phí, vừa chống nóng cho heo vào mùa hè. Hoặc sử dụng màng chống thấm HDPE mục đích tiết kiệm chi phí trong khi vẫn đảm bảo được tiêu chí cơ bản cho mục đích làm mái. Trong trường hợp sử dụng mái tôn, bạn nên xây cao để giảm sức nóng. Ngoài ra, sử dụng quạt thông gió cũng là lựa chọn hữu hiệu.

5. Hệ thống xử lý phân và nước thải

Cho dù chăn nuôi với quy mô lớn hay nhỏ, bạn cũng cần phải lưu ý đến hệ thống xử lý phân, nước thải để đảm bảo điều kiện sống tốt nhất cho heo, ngăn ngừa sự phát sinh của mầm bệnh.

Tùy theo mục đích sử dụng của gia đình mà bạn có thể xây dựng hầm ủ phân hay ủ khí sinh học (biogas) vừa tạo ra được nguồn phân cho cây trồng lại vừa có được nguồn khí đốt giúp tiết kiệm chi phí hàng ngày.

Hầm Biogas sử dụng màng HDPE dày 0,5 mm lót đáy. Màng HDPE dày 1 mm lót phủ

6. Vật dụng ăn, uống

Vật dụng ăn uống cho heo cũng vô cùng đa dạng và phong phú. Tùy vào quy mô chăn nuôi của gia đình mà các bạn có thể lựa chọn máng lớn hay nhỏ, chất liệu sành hay gỗ.

Với máng uống, bên cạnh sử dụng sản phẩm tương tự như máng ăn, các bạn có thể sử dụng các loại núm uống tự chảy vừa đáp ứng được nhu cầu của heo, vừa tiết kiệm nước. Khi lắp đặt, bạn chỉ cần lưu ý thiết kế núm uống có độ cao từ 25-40 cm so với nền chuồng là được.