Công trình thủy lợi – Yêu cầu trong thiết kế, thi công và nghiệm thu màng chống thấm HDPE, bạt chống thấm HDPE

nguồn: TCVN  2015 do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
biên soạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.

mang-hdpe-bạt-hdpe-giá-rẻ-nhất

mang-hdpe-bạt-hdpe-giá-rẻ-nhất

trải-màng-hdpe-dự-án-lọc-hóa-dầu-nghi-sơn-màng-hdpe-0.25mm-ThawngLong-màng-hdpe-2mm-Aritex

trải-màng-hdpe-dự-án-lọc-hóa-dầu-nghi-sơn-màng-hdpe-0.25mm-ThangLong-màng-hdpe-2mm-Aritex

 

1  Phạm vi áp dụng

– Tiêu chuẩn này áp dụng cho việc sử dụng màng chống thấm HDPE để chống thấm công trình Thuỷ lợi bằng đất (đập đất, kênh, ao, hồ…) xây dựng mới và nâng cấp sửa chữa;

– Màng chống thấm HDPE trong tiêu chuẩn này chí có tính năng chống thấm (hoặc ngăn chặn thẩm thấu chất ô nhiễm) cho công trình.

2  Tài liệu viện dẫn

Các tài liệu viện dẫn sau rất cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất bao gồm cả sửa đổi, bổ sung (nếu có).

– TCVN 8216:2009, Thiết kế đập đất đầm nén;

– TCVN 8297:2009, Công trình thủy lợi – Đập đất – yêu cầu kỹ thuật trong thi công bằng phương pháp đầm nén

3  Thuật ngữ và định nghĩa

Tiêu chuẩn này áp dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau:

màng chống thấm HDPE

Màng chống thấm HDPE là màng polyme tổng hợp ở dạng cuộn hoặc tấm, mỏng, dễ uốn, có hệ số thấm rất thấp, được sử dụng để chống thấm cho công trình đất, đá, bê tông

4  Yêu cầu trong thiết kế

4.1 Các hình thức bảo vệ màng chống thấm HDPE

4.1.1 Chỉ dẫn chung:

Trên vùng đất chứa nhiều sỏi sạn, vỏ hầu hà, đá dăm hoặc những nơi chịu tác động như đá lăn, sóng gió, va chạm của vật nổi có nguy cơ làm thủng, hư hại màng chống thấm HDPE thì cần phải thiết kế lớp bảo vệ để tránh những tác động này.

Lớp bảo vệ có tác dụng bảo vệ màng chống thấm khỏi các tác động cơ học ngắn hạn như sự chọc thủng của các vật sắc nhọn, đẩy bục, tải trọng thi công và tác động mang tính chất dài hạn gây ra sự rão, giòn, lão hóa sau một thời gian dài sử dụng.

Với công trình khi nền đất tốt và không có những vật có nguy cơ gây hư hại cho màng chông thấm thì có thể không cần lớp bảo vệ phía dưới mà chỉ cần đầm chặt đất sau đó rải trực tiếp màng chống thấm HDPE lên.

Các hình thức lớp bảo vệ được lựa chọn dựa trên cấu trúc của công trình, đặc điểm địa chất và loại tải trọng tác động.

4.1.2 Bảo vệ phía dưới màng chống thấm:

– Bảo vệ bằng vải địa kỹ thuật

Áp dụng khi đất không có dăm sạn, vỏ hầu hà. Vải địa kỹ thuật ngoài tác dụng bảo vệ còn có tác dụng thoát nước và thoát khí phía sau màng chống thấm HDPE

– Bảo vệ bằng cát kết hợp vải địa kỹ thuật:

Trường hợp nền có nhiều khe nứt, nhiều vật sắc nhọn, nền là vật liệu rỗng, xốp thì rải một lớp vải địa kỹ thuật sau đó đổ cát lên trên tạo thành lớp bảo vệ phía dưới màng chống thấm

4.1.3 Bảo vệ phía trên màng chống thấm:

– Bảo vệ bằng lớp đất phủ trên:

Sử dụng lớp đất phủ bảo vệ mặt trên của màng chống thấm, độ dày của lớp này phải được tính toán cho từng điều kiện cụ thể đảm bảo sự bền vững và ổn định trong quá trình khai thác, vận hành.

– Bảo vệ bằng bê tông cốt thép:

Thiết kế thành từng ô, phía dưới trải một lớp đệm bằng vải địa kỹ thuật hoặc vải bạt dứa.

– Bảo vệ bằng các vật liệu khác: Geocell, Geoweb.

GHI CHÚ:

Trong một số trường hợp có thể sử dụng thêm vải địa kỹ thuật hoặc vải bạt dứa ở giữa lớp phủ bằng đất và màng chống thấm để tăng ma sát, duy trì sự ổn định của lớp phủ.

4.2 Bố trí màng chống thấm HDPE chống thấm cho công trình thủy lợi

4.2.1 Bố trí màng HDPE cho đập đất:

4.2.1.1 Điều kiện áp dụng:

Áp dụng cho đập đất xây mới và nâng cấp sửa chữa mà vật liệu đất đắp có tính thấm mạnh.

4.2.1.2 Hình thức bố trí:

Hình 1.a – Màng chống thấm ở thượng lưu có lớp phủ – 1

Hình 1.b – Màng chống thấm ở thượng lưu có lớp phủ – 2

Hình 1.c – Màng chống thấm ở thượng lưu có lớp bê tông cốt thép bảo vệ mái

Hình 1.d – Màng chống thấm ở giữa thân đập

– Hình thức bố trí hình 1.a, 1.b và 1.d dùng cho đập xây mới;

– Hình thức bố trí hình 1.a, 1.b và 1.c dùng cho đập sửa chữa.

4.2.1.3 Tính toán màng HDPE cho đập đất:

  1. a) Trường hợp tính:

Cần tuân thủ các trường hợp tính thông thường của đập đất theo quy định hiện hành. Khi tính toán ứng với trường hợp mực nước thượng lưu rút đột ngột cần tính toán thêm thấm, ổn định cho mái thượng lưu và đẩy ngược cho lớp bảo vệ theo các trường hợp sau:

– Thượng lưu là mực nước lũ thiết kế rút xuống đến mực nước khai thác ổn định (trường hợp cơ bản);

– Thượng lưu là mực nước lũ kiểm tra rút xuống đến mực nước khai thác ổn định (trường hợp đặc biệt);

– Thượng lưu là mực nước dâng bình thường (hoặc mực nước lũ thiết kế) rút xuống đến mực nước đảm bảo an toàn cho đập khi có nguy cơ sự cố (trường hợp đặc biệt).

  1. b) Các yêu cầu khác:

Các tính toán thấm (gradien thấm của thân và nền, lưu lượng thấm), ổn định tổng thể, xử lý nền tuân theo quy định về thiết kế nền công trình thủy công và thiết kế đập đất đầm nén hiện hành.

4.2.2 Bố trí màng HDPE cho kênh, mương:

4.2.2.1 Điều kiện áp dụng:

Áp dụng cho kênh, mương đi qua vùng địa chất có tính thấm mạnh hoặc kênh vận chuyển nước có chứa chất thải, chất ô nhiễm.

4.2.2.2 Hình thức bố trí:

Hình 2 – Bố trí màng HDPE chống thấm cho kênh, mương

(a) Bố trí màng chống thấm không có lớp bảo vệ;

(b) Bố trí màng chống thấm có lớp bảo vệ phía trên;

(c) Bố trí màng chống thấm có vải địa kỹ thuật lót dưới;

(d) Bố trí màng chống thấm có vải địa kỹ thuật lót trên, dưới và có lớp bảo vệ phía trên.

4.2.2.3 Tính toán màng HDPE cho kênh, mương:

Tính thấm (lượng mất nước) qua đáy cho trường hợp chỉ bố trí màng HDPE cho mái

4.2.3 Bố trí màng HDPE cho ao, hồ trữ nước và chứa chất thải:

4.2.3.1 Điều kiện áp dụng:

Áp dụng cho ao, hồ trữ nước hoặc chất thải trên nền địa chất có tính thấm mạnh.

4.2.3.2 Hình thức bố trí màng chống thấm HDPE

Hình 3 – Bố trí màng chống thấm HDPE cho ao, hồ

Hình 4 – Cắt ngang bố trí màng chống thấm HDPE cho ao, hồ

 

Hình 5 – Chi tiết rãnh tiêu ngầm Hình 6 – Chi tiết ống thoát nước, khí

4.2.3.3 Bố trí hệ thống tiêu nước ngầm và thoát khí

  1. a) Phạm vi bố trí

Toàn bộ lòng hồ và mái phải thiết kế hệ thống tiêu thoát nước ngầm và thoát khí. Các rãnh thoát nước này dẫn đến giếng bơm hoặc thoát trực tiếp. Khí được thoát trực tiếp qua hệ thống ống dẫn bố trí xung quanh mái ra ngoài.

  1. b) Yêu cầu kỹ thuật đối với rãnh thoát nước:

– Rãnh tiêu ngầm dốc về phía giếng thu, kích thước rãnh thiết kế theo kết quả tính toán từ các tài liệu khảo sát lưu lượng nước ngầm và thuỷ lực;

– Hệ thống thoát nước, thoát khí mái có thể sử dụng ống nhựa khoan lỗ cuốn vải lọc xung quanh chôn dọc mái, khoảng cách đặt ống lấy theo kết quả tính toán trên cơ sở khảo sát nước ngầm và thuỷ lực.

4.3 Chi tiết các hình thức liên kết của màng HDPE

4.3.1 Cấu tạo rãnh neo

  1. a) Hình thức bố trí

Rãnh neo màng chống thấm theo hình dạng dưới đây.

Hình 7 – Chi tiết rãnh neo màng chống thấm HDPE

  1. b) Yêu cầu cấu tạo

– Phần vải trong rãnh neo không được có mối hàn, không có những hình dạng bất thường để tránh phá hủy vật liệu;

– Đất đổ vào rãnh neo sau khi lắp đặt màng chống thấm phải được đầm chặt với K ≥ 0.95 (việc đổ đất phải tiến hành ngay sau khi trải màng địa kỹ thuật).

4.3.2 Tiếp nối màng chống thấm với các kết cấu khác:

4.3.2.1 Tiếp nối màng chống thấm với kết cấu bê tông, gạch, đá xây:

  1. a) Kết nối bằng Polylock

– Polylock là các chi tiết bằng polime chế tạo sẵn. Polylock có cùng thành phần cấu tạo với màng chống thấm, kiểu dáng rất đa dạng (dạng  Chữ I, C, E, Omega…) và nhiều kích thước khác nhau (Polylock của hãng GSE có kích thước tiêu chuẩn: dài 3m; rộng:0.15m; chân: 0.025m);

– Polylock được lắp đặt đồng thời trong khi thi công các kết cấu bêtông, gạch đá… chẳng hạn polylock gắn vào cốt thép hoặc cốt pha khi đổ bê tông.

 

Hình 8 – Các dạng Polylock Hình 9 – Kết nối bằng Polylock
  1. b) Kết nối bằng bu lông, nẹp và gioăng cao su.

– Gioăng cao su chế tạo có thành phần phù hợp với mục đích chống thấm:  Để chống thấm công trình trữ chất thải dùng gioăng là cao su Neoprene hoặc Nitrine và để chống thấm hồ chứa, bể nước sinh hoạt trong thành phần phụ gia gioăng cao su không có chất độc hại;

– Nẹp, bu lông, vòng đệm chế tạo từ thép không rỉ.

Hình 10 – Kết nối bằng bulong, nẹp và gioăng cao su

4.3.2.2 Tiếp nối màng chống thấm với đường ống:

  1. a) Sơ đồ nối tiếp màng chống thấm với đường ống:

Hình 11 – Sơ đồ nối tiếp màng chống thấm với đường ống

  1. b) Các chi tiết để nối màng chống thấm với đường ống chế tạo bằng các loại vật liệu (thép, bêtông,, nhựa… ) gồm:

Hình 12Kết nối màng chống thấm với đường ống

– Tấm bê tông cốt thép có độ dày ít nhất 0.15m, mác M200, dạng tròn, vuông, chữ nhật;

– Polylock lắp đặt khi thi công tấm bêtông, dạng vuông, chữ nhật, đa giác đều, tâm trùng với tâm ống;

– Nẹp chế tạo bằng thép không rỉ.

GHI CHÚ:

Trường hợp thành phần cấu tạo của ống cùng loại với thành phần cấu tạo của màng (Ví dụ: ống HD và màng HDPE) thì kết nối trực tiếp giữa màng chống thấm với ống bằng phương pháp hàn đùn nhưng vẫn phải giữ nguyên hệ nối tiếp trung gian gồm tấm bêtông cốt thép và Polylock (hoặc bu lông-nẹp-gioăng), bởi vì nhờ có hệ nối tiếp trung gian mà sự chuyển vị của màng khi gia tải (như: đổ vật liệu mới, tích nước lần đầu…) không làm gẫy ống, nhất là đối với những ống nằm trên mặt phẳng nghiêng.

5  Thi công

5.1  Công tác chuẩn bị trước khi thi công

5.1.1 Yêu cầu về vật liệu

Các cuộn màng chống thấm HDPE trước khi chuyển đến công trường phải có đầy đủ các hồ sơ kỹ thuật sau:

– Bản khai ngày sản xuất;

– Các chứng chỉ xác nhận rằng: Tất cả các cuộn màng chống thấm được cung cấp chỉ bởi một nhà cung cấp;

– Bản xác nhận không sử dụng polymer tái chế trong nhựa nền;

– Các chứng chỉ kiểm soát chất lượng phát hành bởi nhà sản xuất;

– Các báo cáo thí nghiệm của nhà sản xuất;

– Các kết quả thí nghiệm của các phòng thí nghiệm hợp chuẩn (làm tài liệu so sánh với báo cáo thí nghiệm của nhà sản xuất) và các chứng chỉ xác nhận màng chống thấm đạt yêu cầu sản phẩm;

– Bản hướng dẫn vận chuyển, giao hàng, bảo quản, bốc dỡ màng chống thấm;

– Bản hướng dẫn lắp đặt màng chống thấm;

– Lưu mẫu để rà  xét.

5.1.2 Yêu cầu kỹ thuật trong công tác vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản màng chống thấm tại công trường:

– Phải sử dụng các phương tiện chuyên dụng để vận chuyển màng chống thấm từ kho trữ, nơi sản xuất đến công trường nhằm tránh các hư hại do tác động cơ học và thời tiết.

Tại công trường phải sử dụng các thiết bị phù hợp để di chuyển các cuộn màng chống thấm từ nơi tập kết đến vị trí lắp đặt bảo đảm không làm hư hại mặt bằng, không làm thủng rách các cuộn màng chống thấm. Không cho phép kéo lê các cuộn màng chống thấm trên mặt đất mà phải dùng con lăn.

Các thiết bị bốc dỡ không được phép sử dụng cáp thép mà phải dùng cáp mềm dạng băng vải.

– Nơi tập kết các cuộn màng chống thấm tại công trường phải được lựa chọn kỹ lưỡng và che phủ tránh mưa, nắng, tránh xa khu vực có nguy cơ cháy nổ, kho chứa dầu, mỡ, bụi bẩn, bùn nước… và thuận tiện cho việc chuyên chở tới vị trí lắp đặt.

– Không chồng các cuộn màng chống thấm quá 3 tầng.

5.1.3  Yêu cầu kỹ thuật đối với các thiết bị thi công, các thiết bị phục vụ cho công tác nghiệm thu tại hiện trường:

5.1.3.1 Các sơ đồ hàn nối:

  1. a) Đường hàn kép

CHÚ DẪN:

1 – đường hàn;

2 – kênh khí;

0.1m đến 0.15m là khoảng cách chồng mí.

  1. Đường hàn đùn

CHÚ DẪN:

1 – đường hàn đùn;

2 – tấm màng phía trên;

3 – tấm màng phía dưới;

0.075m đến 0.1m là khoảng cách chồng mí.

5.1.3.2 Yêu cầu đối với các thiết bị thi công:

Các thiết bị thi công bao gồm: Máy hàn kép, máy hàn đùn, máy thổi khí nóng, máy mài và các thiết bị, dụng cụ phụ trợ… tất cả các loại máy này phải được kiểm định và dán tem chất lượng của các cơ quan chức năng.

Máy hàn kép (hay còn gọi là máy hàn nêm nóng) phải có đồng hồ đo và khống chế nhiệt độ hàn, áp lực nén và tốc độ hàn. Đường hàn phải bảo đảm kênh khí thông suốt giúp cho việc nghiệm thu bằng thí nghiệm áp lực khí được dễ dàng. Mặt cắt ngang đường hàn kép trình bày ở hình 13.

Máy hàn đùn phải có đồng hồ đo và khống chế nhiệt độ tại đầu đùn. Mặt cắt ngang đường hàn đùn trình bày ở hình 14.

Đơn vị thi công phải có đủ máy dự phòng và phụ tùng thay thế để bảo đảm tính liên tục trong quá trình thi công nhằm đáp ứng được kế hoạch và tiến độ trong quá trình thi công.

5.1.3.3 Các thiết bị phục vụ thi công:

Các thiết bị phục vụ thi công: bao gồm hệ thống chiếu sáng, các thiết bị nâng, di chuyển, rải màng, máy phát điện… không được phép sử dụng bánh xích mà phải thay bằng bánh lốp cao su. Các thiết bị này phải được trang bị các phương tiện phòng chữa cháy và có biện pháp phòng ngừa dầu mỡ rò rỉ lên bề mặt màng chống thấm.

5.1.3.4 Các dụng cụ, vật tư cần phải có trong quá trình thi công:

Bao gồm: Cọc tre hoặc gỗ, bao tải cát, thang dây, thước đo, dao kéo, vật mẫu để đánh dấu khoảng cách chồng mí, bút sơn trắng (thường dùng bút xoá), các dụng cụ để kéo như puller, kìm, dây thừng, các dụng cụ để vệ sinh bề mặt màng chống thấm: vải mềm, miếng xốp…

5.1.3.5 Các thiết bị thí nghiệm hiện trường:

Bao gồm:

– Máy kéo xách tay để kiểm tra chất lượng mối hàn thử từ đó lựa chọn các thông số kỹ thuật  cho các máy hàn đối với từng ca làm việc gồm: nhiệt độ hàn, áp lực nén và tốc độ hàn. Yêu cầu kỹ thuật của máy kéo xách tay: lực kéo tối thiểu là 1200 N và đường hành trình của ngàm kẹp di động  ≥ 50cm.

– Thiết bị thí nghiệm chân không, thiết bị thí nghiệm áp lực khí, thiết bị thí nghiệm tia lửa điện phục vụ cho quá trình nghiệm thu tại hiện trường phải được kiểm định và dán tem chất lượng của các cơ quan chức năng.

– Khuôn cắt mẫu.

5.2   Các bước trong quá trình thi công

5.2.1 Công tác nghiệm thu bề mặt trước khi rải màng

Bao gồm nghiệm thu bề mặt và rãnh neo:

  1. a) Bề mặt trước khi rải màng phải đạt các yêu cầu kỹ thuật sau:

– Phẳng, nhẵn, chắc (đầm, nén, lu, lèn đúng yêu cầu kỹ thuật) và không đọng nước.

– Phải dọn sạch cành, rễ cây, đá, gạch vụn và các hạt, mẩu, miếng vật liệu khác có nguy cơ gây hại cho màng chống thấm.

– Tại các vị trí thay đổi độ cao phải bo tròn tối thiểu đến bán kính 0.154m.

  1. b) Rãnh neo:

– Ngoại trừ trường hợp đặc biệt theo yêu cầu thiết kế, hình dạng và kích thước rãnh neo phải thi công như hình 15.

– Mép của rãnh neo tiếp xúc với màng chống thấm phải được bo tròn để tránh làm rách màng khi bị kéo căng.

– Lắp đặt màng chống thấm đến đâu phải đổ đất vào rãnh neo đến đó để tránh phải bắc cầu qua rãnh neo.

– Đất đổ vào rãnh neo phải đầm chặt với K ≥ 0.95.

5.2.2  Các bước chuẩn bị các tấm màng (panel) trước khi lắp đặt

– Chọn một khoảng đất phẳng, nhẵn, đủ rộng (có thể mở được 40m đến 50m theo chiều dài cuộn màng chống thấm) gần vị trí lắp đặt để tập kết các cuộn màng chống thấm và làm nơi chế tạo các tấm panel lắp đặt.

– Từ hiện trường chọn vị trí lắp đặt tấm màng đầu tiên (ký hiệu P1) và xác định hướng lắp đặt các tấm tiếp theo (P2, P3,….), thường chọn hướng xuôi theo chiều gió hoặc theo chiều kim đồng hồ.

– Dùng thước dây đo và ghi khoảng cách giữa các điểm giới hạn của từng tấm. Tại các điểm giới hạn phải chôn cột mốc hoặc cắm cọc tiêu ghi rõ vị trí từng tấm.

– Vẽ sơ đồ lắp đặt trên nhật ký thi công bao gồm thứ tự lắp đặt, vị trí và kích thước từng tấm (đánh theo thứ tự P1, P2, P3,…).

– Số liệu đo đạc từ hiện trường được chuyển về nơi tập kết và chế tạo các tấm panel. Tại đây một nhóm công nhân mở các cuộn màng chống thấm nguyên vẹn ra, tiến hành đo, cắt thành các panel tương ứng. Sau khi chế tạo xong, Các panel này được cuộn, buộc lại và dùng bút sơn trắng (bút xoá) để ghi các dữ liệu trực tiếp lên bề mặt từng cuộn. Thí dụ: “Tấm P1 – Dài x rộng: 45 x7(m) – Vị trí lắp đặt: K1”. Các panel này được xếp theo thứ tự lắp đặt, thành từng đống nhỏ tương đương với khối lượng mỗi lần chở của xe chuyên dụng trong khi chờ vận chuyển tới vị trí lắp đặt ngoài công trường.

5.2.3  Lắp đặt (trải màng)

  1. a) Nguyên tắc chung:

– Trải màng trên mái dốc:

Chiều dọc của các tấm panel phải trải song song với hướng mái dốc, tức là các đường hàn nối giữa các tấm với nhau cũng song song với hướng mái dốc. Độ dài mỗi tấm panel phải cách chân khay ít nhất là 2m. Xem hình 16.

 

 

– Trải màng trên mặt phẳng:

Theo hướng bất kỳ, song phải tính toán sao cho tổng độ dài các đường hàn nối là ngắn nhất.

– Tại các góc: Trải màng theo hình 16

CHÚ DẪN:

a – rãnh neo;

b – đường chân khay

  1. b) Khoảng cách chồng mí:

Sản phẩm xuất xưởng của một số hãng sản xuất màng chống thấm HDPE có đánh dấu sẵn khoảng cách chồng mí bằng vạch màu trắng, rất thuận tiện cho người lắp đặt. Đối với những sản phẩm không được đánh dấu sẵn khoảng cách chồng mí thì dùng vật mẫu để đánh dấu. Khoảng cách chồng mí giữa các tấm màng phụ thuộc vào yêu cầu của từng loại máy hàn, thường từ 100mm đến 150mm. Ví dụ: máy hàn Demtech do Mỹ sản xuất yêu cầu khoảng cách chồng mí từ 100mm đến 120mm.

  1. c) Nội dung mẫu báo cáo lắp đặt hàng ngày

Tên dự án:……………………………….     Phụ trách công trường:………………………………………………

Vị trí lắp đặt:…………………………….      Dạng vật liệu:   HDPE        Nhẵn:………..        Nhám:…………

Phụ trách lắp đặt:……………………..      Chiều dày màng :………………………………………………..

Thời gian:……..giờ,ngày………..tháng………..năm……………

Sè TT TÊm (Panel) sè Dµi (m) Réng

(m)

DiÖn tÝch (m2) VÞ trÝ -Thêi gian l¾p ®Æt Phô tr¸ch l¾p ®Æt
1 P1 50 7 350 K1  –   7h, 10/10/2014 TrÇn TuÊn Anh

5.2.4  Các yêu cầu kỹ thuật khi hàn nối

5.2.4.1 Hàn thử:

  1. a) Đối với máy hàn kép:

– Ngay tại công trường cắt 2 tấm  dài 5m, rộng 0,3m vệ sinh sạch sẽ. Chọn các thông số cho máy hàn gồm: nhiệt độ, tốc độ và áp lực nén. Khởi động và chờ cho máy ổn định tiến hành hàn 2 tấm đã được chuẩn bị sẵn với nhau, ta được mẫu hàn thử. Sau khi mẫu nguội loại bỏ hai đầu mẫu, dùng khuôn hoặc các dụng cụ đo cắt (Thước, êke, dao kéo) chế tạo 10 mẫu thử  mỗi mẫu có kích thước: rộng 0.025m dài 0.15m.

– Lấy 5 mẫu thử độ bền kháng kéo và 5 mẫu thử độ bền kháng bóc trên máy kéo xách tay ngay tại công trường.

– Đem giá trị trung bình của mỗi dạng thử so sánh với bảng1. Nếu độ bền kháng kéo và độ bền kháng bóc bằng hoặc lớn hơn giá trị cho trong bảng thì xem như mối hàn đạt yêu cầu và lấy các thông số đã chọn(nhiệt độ, tốc độ và áp lực nén) cho các máy hàn của ca hàn hôm đó và các thông số này được duy trì cho đến lần hàn thử tiếp theo. Nếu không đạt thì điều chỉnh lại các thông số cho máy hàn và hàn thử mẫu mới.

  1. b) Đối với máy hàn đùn:

Làm tương tự như máy hàn kép, nhưng độ dài đường hàn là 1m.

Bảng 1 – §é bÒn cña mèi hµn theo Tiªu chuÈn ASTM – D 4437
§é bÒn kh¸ng kÐo §é bÒn kh¸ng bãc
 

Tªn s¶n phÈm

 

§é dµy

m

Hµn ®ïn

kN/m

(PPI)

Hµn kÐp

kN/m

(PPI)

Hµn ®ïn

kN/m

(PPI)

Hµn kÐp

kN/m

(PPI)

 

Mµng HDPE nh½n 2 mÆt

 

1.0*10-3 14.1

(81)

14.1

(81)

9.1

(91)

11.4

(65)

 

Mµng HDPE nh½n 2 mÆt

 

1.5*10-3 21.2

(121)

21.2

(121)

13.7

(78)

17.2

(98)

 

Mµng HDPE nh½n 2 mÆt

 

2.0*10-3 28.4

(162)

28.4

(162)

18.2

(104)

22.8

(130)

 

Mµng HDPE nh¸m 2 mÆt

 

1.0*10-3 9.8

(56)

9.8

(56)

8.4

(48)

8.4

(48)

 

Mµng HDPE nh¸m 2 mÆt

 

1.5*10-3 14.7

(84)

14.7

(84)

12.6

(72)

12.6

(72)

 

Mµng HDPE nh¸m 2 mÆt

 

2.0*10-3 19.6

(112)

19.6

(112)

16.8

(96)

16.8

(96)

  1. c) Tần suất hàn thử:

Tần suất hàn thử ít nhất 2 lần trong ngày: lần1 vào lúc bắt đầu làm việc, lần 2 vào giữa ca, hoặc khi nhiệt độ môi trường thay đổi quá 10oC so với lần hàn thử trước đó.

5.2.4.2 Hàn đại trà:

  1. a) Chỉ dẫn chung

– Tuỳ thuộc vào qui mô công trường mà bố trí số lượng máy hàn. Mỗi máy hàn có ít nhất 3 công nhân phục vụ trong đó có 1 thợ hàn, 1 vệ sinh diện tích hàn và 1 phụ trách điện.

– Cán bộ phụ trách thi công phải lên lịch trình cho từng máy và bàn giao khu vực thi công hết sức cụ thể để tránh bỏ sót đường hàn, đồng thời phải giám sát chặt chẽ các bước trong qui trình hàn nhằm bảo đảm chất lượng các mối hàn.

– Nội dung mẫu báo cáo khối lượng hàn hàng ngày:

Tên dự án:……………………………….     Phụ trách công trường:………………………………………………………….

Vị trí lắp đặt:…………………………….      Dạng vật liệu:               Nhẵn………..                     Nhám…………

Phụ trách lắp đặt:……………………..      Chiều dày màng :         ………………………………………………..

Thời gian:……..giờ,ngày………..tháng………..năm……………

SốTT Đường hàn số Dạng đường hàn Độ dài (m) Máy hàn số Vị trí &Thời gian hàn Phụ trách thi công
1 S1 kép 150 3 K2  –   7h, 10/10/2014 Trần Tuấn Anh
  1. b) Các lưu ý trong quá trình lắp đặt:

– Việc bố trí các tấm panel trong một ca làm việc phải phù hợp và không lớn hơn khả năng hàn hay neo giữ trong ca đó.

– Không trải màng trong trường hợp độ ẩm quá cao, có mưa, nước đọng hay gió to.

– Trải màng đến đâu phải chặn bao tải cát đến đó, tránh gió làm bay các tấm màng đi nơi khác hoặc cuộn rối lại thành từng đống.

– Chỉ sử dụng giày đế mềm cho công nhân thi công màng chống thấm.

– Sử dụng các biện pháp giảm thiểu các nếp nhăn nơi tiếp xúc giữa hai tấm màng nhất là trong diện tích chồng mí.

– Không cho phép bất kỳ xe nào chạy trực tiếp trên bề mặt màng chống thấm.

– Các máy móc phục vụ thi công phải có khay hứng dầu, mỡ tránh làm loang lên bề mặt màng chống thấm và không được đặt máy trực tiếp lên bề mặt màng chống thấm mà phải có lớp đệm bằng tấm cao su hay bìa các tông.

– Trong quá trình lắp đặt từ cán bộ phụ trách kỹ thuật, giám sát viên, kỹ sư đến công nhân luôn thanh tra bằng mắt thường trên toàn bề mặt màng chống thấm để phát hiện các khiếm khuyết, đánh dấu các lỗ thủng, rách để sửa chữa.

5.2.5  Qui trình sửa chữa đường hàn lỗi

  1. a) Qui trình vá:

Sử dụng vá các lỗ thủng, rách trong vận chuyển, bốc dỡ, thi công và lấy mẫu kiểm tra.  Cách vá xem hình 17.  Miếng vá phải trùm qua các mép lỗ thủng ít nhất 100mm. Trước khi hàn phải tạo nhám mặt tiếp xúc giữa miếng vá tấm nền và phải mài vát 45o mép miếng vá.. Tất cả các miếng vá xong phải kiểm tra bằng thí nghiệm hút chân không.

CHÚ DẪN:

1 – lỗ thủng, vết rách;

2 – Miếng vá;

3 – đường hàn vá.

  1. b) Qui trình phủ:

Áp dụng khi sửa chữa các đường hàn lỗi. Qui trình phủ xem hình 18. Tất cả các đoạn sửa chữa phải kiểm tra bằng thí nghiệm hút chân không.

CHÚ DẪN:

1 – đoạn hàn lỗi (hở);

2 – đường hàn phủ;

3 – phần cắt bỏ;

4 – mép trên của mí chồng;

5 – mép dưới của mí chồng.

5.3  Công tác an toàn và bảo vệ môi trường trong quá trình thi công

5.3.1 Qui định chung

– Trước khi thi công phải  điều tra, khảo sát kỹ địa hình, địa chất và thuỷ văn địa điểm thi công, dự báo trước các diễn biến thời tiết như mưa, bão, lốc để có biện pháp dự phòng bảo đảm an toàn cho người, xe máy, vật tư, nhiên liệu, các kho chứa vật liệu cũng như tài sản của dân cư sống lân cận.

– Các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, bảo vệ sức khoẻ, phòng chống cháy nổ, phòng chống bệnh dịch… phải dựa vào các văn bản pháp qui hiện hành.

– Phải tiến hành điều tra, xác định vị trí các tuyến đường ống ngầm, đường dây điện ngầm, đường cáp quang ngầm… trong phạm vi thi công để có biện pháp bảo đảm an toàn cho các công trình ngầm trong quá trình thi công.

– Phải có biện pháp hạn chế tối đa tác động xấu đến môi trường sinh thái, đặc biệt là vấn đề xử lý phế thải do thi công tạo ra nhằm tránh làm ô nhiễm đất, nguồn nước, nhất là nước ngầm.

5.3.2 Các biện pháp an toàn trong thi công

– Tất cả mọi người tham gia thi công phải bắt buộc dự khoá học an toàn lao động do ban an toàn công trường giảng dạy.

– Tất cả mọi người tham gia thi công phải được trang bị bảo hộ lao động gồm: quần áo, giầy tất, kính mắt, dây an toàn.

– Các đường tạm, cầu tạm phải có bố trí biển báo, hướng dẫn cho người tham gia giao thông.

– Các hố móng, mép taluy, rãnh đặt ống ngầm, dây cáp ngầm phải có hàng rào bao quanh và cắm biển cảnh báo nguy hiểm.

– Các thiết bị máy thi công sử dụng nguồn điện phải trang bị hệ thống an toàn như: ổn áp, bộ tự ngắt Các máy móc sử dụng xăng dầu, khí ga…. phải được trang bị thiết bị phòng chống cháy nổ như bình xịt CO2, cát, nước…..

– Phải có hệ thống chiếu sáng nếu thi công ban đêm.

5.3.3 Bảo vệ môi trường

– Phải có biện pháp phòng ngừa ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước, xói lở đất.

– Phải có biện pháp xử lý phế thải, rác thải sinh hoạt, đặc biệt các loại phế thải có lẫn dầu mỡ.

– Phải có biện pháp phòng ngừa ô nhiễm khí thải và tiếng ồn.

5.3.4 Bảo vệ sinh thái

– Trong quá trình thi công nghiêm cấm việc chặt cây bừa bãi, tự tiện săn bắt thú rừng;

– Thực hiện đầy đủ qui định của nhà nước về bảo vệ cây cối quý hiếm, rừng phòng hộ và thú rừng quí hiếm, các quy định đề phòng chống cháy rừng trong mùa khô hanh.

5.3.5 Bảo vệ di sản văn hoá

– Trong quá trình thi công phải tuân thủ các qui định của nhà nước về bảo vệ di sản văn hoá, các di tích lịch sử như thành quách, chùa chiền, bia mộ, đài kỷ niệm, miếu thờ, các cổ vật.

6  Nghiệm thu

6.1 Nghiệm thu lắp đặt lớp màng chống thấm:

Sau khi xác minh ngoài hiện trường và tổ chức kiểm nghiệm chất lượng đường hàn hội đồng nghiệm thu phải lập các biên bản, chứng chỉ xác nhận lớp màng chống thấm đã được lắp đặt theo đúng qui định yêu cầu đặc tính kỹ thuật và bản vẽ thiết kế.

6.2 Kiểm nghiệm chất lượng đường hàn:

Chất lượng đường hàn được đánh giá bởi độ kín (kín khí hoặc kín nước) và độ bền. Độ kín được kiểm nghiệm bằng phương pháp không phá huỷ thực hiện trực tiếp tại hiện trường và độ bền được kiểm nghiệm bằng phương pháp phá huỷ tại các phòng thí nghiệm hợp chuẩn (chi tiết xem phụ lục A và B).

 

Phụ lục A

(Tham khảo)

Kiểm nghiệm chất lượng đường hàn bằng phương pháp không phá huỷ

 

Kiểm nghiệm chất lượng đường hàn bằng phương pháp không phá huỷ thực hiện tại hiện trường bằng các thí nghiệm sau:

A.1 Phương pháp thí nghiệm áp lực khí (theo tiêu chuẩn ASTM-D4437):

Áp dụng cho đường hàn kép có kênh khí nằm giữa được hàn kín hai đầu.

A.1.1 Thiết bị thử:

– Bình khí nén hoặc một bơm không khí chạy bằng mô tơ hoặc thủ công có trang bị đồng hồ đo áp suất và có khả năng tạo ra và duy trì áp suất lớn hơn 275 kPa.

– Ống dẫn khí chịu áp lực bằng cao su

– Kim rỗng đủ độ cứng có thể xuyên qua lớp màng chống thấm dễ dàng

– Đồng hồ đo áp có độ chính xác 7 Pa.

– Đồng hồ bấm giây (thì kế)

CHÚ DẪN:

1 – bình khí nén

2 – van khống chế áp lực trong kênh khí

3 – đồng hồ đo áp trong kênh khí

4 – kim rỗng

5 – mối hàn chặn

A.1.2 Qui trình thử:

– Sơ đồ bố trí thiết bị thử xem hình 19.

– Hàn kín hai đầu đường hàn bằng máy hàn đùn.

– Cắm kim rỗng vào kênh khí, mở van thông khí từ bình nén hoặc bơm cho đến khi áp lực đạt  trị số theo bảng 2.

– Khoá van đồng thời bấm đồng hồ đo thời gian.

– Quan sát đồng hồ đo áp lực trong kênh khí không ít hơn 5 phút.

– Ghi kết quả.

A.1.3 Đánh giá kết quả:

Sau 5 phút nếu áp lực trong kênh khí không giảm hoặc giảm trong giới hạn cho phép ghi trong bảng 2 thì đường hàn đạt yêu cầu.

Bảng 2 Giíi h¹n ¸p lùc trong kªnh khÝ

§é dµy mµng HDPE

(m )

Áp lùc min

(KN/m2)

Áp lùc max

(KN/m2)

Giíi h¹n gi¶m ¸p

(KN/m2)

0.75*10-3m 165.4 206.7 20.7
1.00*10-3m 165.4 206.7 20.7
1.50*10-3m 186.0 206.7 20.7
2.00*10-3m 186.0 206.7 20.7
 2.50*10-3m 206.7 220.5 20.7

A.1.4 Nội dung báo cáo:

Tên dự án:……………………………….     Phụ trách công trường:          ………………………………………………

Vị trí lắp đặt:…………………………….      Dạng vật liệu: HDPE      Nhẵn:….X…….                 Nhám…………

Phụ trách lắp đặt:……………………..      Chiều dày màng :    1.5*10-3m

Ngày thí nghiệm Đường hàn số Áp lực trong kênh khí bắt đầu TN (KN/m2) Áp lực trong kênh khí kết thúc TN (KN/m2) Thời gian giữ áp lực trong kênh khí (phút) Đánh giá Chất lượng đường hàn

 

Phụ trách

thí nghiệm

11/10/2014 S1 206.7 199.8 5 §¹t TrÇn tuÊn Anh

A.2 Phương pháp thí nghiệm chân không (theo tiêu chuẩn ASTM-D5641-94):

Áp dụng cho tất cả các loại đường hàn nhưng chủ yếu áp dụng cho đường hàn đùn, đồng thời áp dụng để kiểm tra các khuyết tật bề mặt màng chống thấm.

A.2.1 Thiết bị thử:

– Hộp chân không trong suốt thường làm từ thuỷ tinh hữu cơ, hình khối hộp chữ nhật hoặc hình chỏm cầu, nhiều kích cỡ, có một mặt thoáng được viền cao su xốp (neoprene) để tạo độ kín khi tiếp xúc với bề mặt màng chống thấm.

– Đồng hồ chân không có thang đo từ 5 kPa (37.5mmHg) đến 70 kPa (525mmHg).

– Van thoát khí gắn ở mặt trên của hộp chân không.

– Bơm chân không có thể làm giảm áp suất trong hộp chân không xuống từ 27 kPa (200mmHg) đến 60 kPa (450 mmHg) có trang bị ống mềm chịu áp lực nén để nối với van thoát khí trên hộp chân không.

– Dung dịch xà phòng và chổi quét.

A.2.2 Qui trình thử:

Sơ đồ bố trí thiết bị thử xem hình 20.

CHÚ DẪN:

1 – viền cao su xốp

2 – hộp chân không

3 – đồng hồ đo áp suất trong hộp chân không

4 – van điều chỉnh áp

5 – ống dẫn khí

6 – bơm hút chân không

7 – dung dịch xà phòng

– Úp hộp chân không lên diện tích màng chống thấm hoặc đường hàn… cần kiểm tra đã được quét ướt đều bằng dung dịch xà phòng.

– Hút chân không từ 28 kPa (210mmHg) đến 55 kPa(412mmHg) tuỳ thuộc vào độ dày màng HDPE.

– Quan sát toàn bộ diện tích thử không ít hơn 10 giây và ghi kết quả.

A.2.3 Đánh giá kết quả:

– Đường hàn đạt yêu cầu nếu không xuất hiện bong bóng xà phòng.

– Bong bóng xà phòng sẽ xuất hiện tại điểm có lỗ thủng hoặc đường hàn hở. Đánh dấu khu vực để sửa chữa.

A.2.4 Nội dung báo cáo:

Tên dự án:……………………………….     Phụ trách công trường:………………………………………………

Vị trí lắp đặt:…………………………….      Dạng vật liệu: HDPE     Nhẵn:  X                    Nhám…………

Phụ trách lắp đặt:……………………..      Chiều dày màng :     1mm (40 mils)

 

Ngµy §­êng hµn sè D¹ng ®­êng hµn ¸p suÊt ch©n kh«ng (kPa)

(mmHg)

Thêi gian quan s¸t (gi©y) ChÊt l­îng ®­êng hµn (®¹t, kh«ng ®¹t) Phô tr¸ch

thÝ nghiÖm

11/10/2014 S1 ®ïn 30kPa

(225 mmHg)

15 §¹t TrÇn tuÊn Anh

A.3 Phương pháp thí nghiệm tia lửa điện:

Phương pháp thí nghiệm tia lửa điện không chỉ để kiểm tra chất lượng tất cả các dạng đường hàn, miếng vá, chỗ phủ … mà còn để phát hiện các khiếm khuyết trong quá trình chế tạo trên toàn bộ bề mặt màng chống thấm.

A.3.1 Thiết bị thí nghiệm:

– Máy khuyếch đại điện áp lên tới 35 kV.

– Đầu rà (còn gọi là bàn chải rà) có cán làm bằng vật liệu cách được điện áp cao, bảo đảm an toàn cho người sử dụng, đầu rà được nối với cực dương của máy khuyếch đại điện áp.

– Bản âm cực di động nối với cực âm của máy khuyếch đại điện áp.

– Bộ bảo hộ an toàn về điện cho thí nghiệm viên: quần áo, giày, kính, găng tay…

A.3.2 Qui trình vận hành:

Sơ đồ bố trí thiết bị thử xem hình 21.

CHÚ DẪN:

1 – đầu rà (bàn chải rà)

2 – cực dương của máy khuyếch đại điện áp

3 – máy khuyếch đại điện áp

4 – cực âm của máy khuyếch đại điện áp

5 – bản âm cực

– Khuyếch đại điện áp lên từ 15000 vol đến 35.000 vol (Tuỳ theo chiều dày màng chống thấm)

– Cầm cán của đầu rà, rà trên bề mặt mối hàn hay trên bề mặt màng chống thấm.

A.3.3 Đánh giá kết quả:

Nếu mối hàn hở hoặc có lỗ thủng trên bề mặt màng chống thấm thì từ đầu rà xuất hiện tia lửa điện kèm theo tiếng đánh lửa lách tách. Dùng bút sơn trắng đánh dấu để sửa chữa.

A.3.4 Nội dung báo cáo:

Tên dự án:……………………………….     Phụ trách công trường:………………………………………………

Vị trí lắp đặt:…………………………….      Dạng vật liệu: HDPE     Nhẵn:  X                    Nhám…………

Phụ trách lắp đặt:……………………..      Chiều dày màng :     1*10-3m

 

Ngµy §­êng hµn sè Khu vùc(bÒ mÆt) kiÓm tra §iÖn ¸p

(Vol)

Ng­êi kiÓm tra §¸nh gi¸ ChÊt l­îng (®¹t, kh«ng ®¹t) Phô tr¸ch

thÝ nghiÖm

11/10/14 S2 K1 25.000 Lª H¶i §¹t TrÇn tuÊn Anh


Phụ lục B

(Tham khảo)

Kiểm nghiệm chất lượng đường hàn bằng phương pháp phá huỷ

 

Độ bền cơ học biểu hiện bằng khả năng kháng bóc và kháng kéo của mối hàn được kiểm nghiệm bằng phương pháp phá huỷ tại các phòng thí nghiệm hợp chuẩn theo tiêu chuẩn ASTM-D6392 – 99.

B.1 Tần suất lấy mẫu và kích thước mẫu thí nghiệm:

  1. a) Tần suất lấy mẫu thoả mãn các điều kiện sau

– Tần suất thí nghiệm tối thiểu là 150 m (500 ft) dài đường hàn cho 1 lần lấy mẫu (Theo tiêu chuẩn GRI Test method GM14).

– Do yêu cầu của giám sát viên chịu trách nhiệm bảo đảm chất lượng lắp đặt tăng hoặc giảm tần suất lấy mẫu dựa trên các kết quả thí nghiệm trước đó.

  1. b) Kích thước mẫu thí nghiệm

– Mẫu hình chữ nhật, kích thước mẫu: Rộng x Dài = 0.305m x 0.1068 m, có đường hàn chạy dọc đường trung tâm. Xem hình 22.

– Mẫu được được chia thành ba phần:

Phần cho phòng thí nghiệm:              Rộng x Dài = 0.305 m x 0.458 m.

Phần cho người lắp đặt:                     Rộng x Dài = 0.305 m x 0.305 m.

Phần cho chủ đầu tư để lưu trữ:        Rộng x Dài = 0.305 m x 0.305 m.

B.2 Vị trí lấy mẫu:

Thoả mãn một trong các điều kiện sau

– Ngẫu nhiên.

– Tại những vị trí nghi ngờ có khuyết tật.

– Do yêu cầu của giám sát viên chịu trách nhiệm bảo đảm chất lượng lắp đặt.

– Giám sát viên là người ký và đánh số mỗi mẫu, đánh dấu số mẫu, vị trí lấy mẫu và thời gian lấy mẫu.

GHI CHÚ:

Hàn vá ngay lập tức các vị trí lấy mẫu và kiểm tra lại bằng một trong các phương pháp thí nghiệm không phá huỷ.

B.3 Qui trình thí nghiệm  theo tiêu chuẩn ASTM-D6392 -99:

B.3.1 Mẫu thử

  1. a) Chế tạo mẫu thử:

Mẫu lớn kích thước 0.305m x 0.458m lấy từ hiện trường về phòng thí nghiệm được chế tạo thành 10 mẫu nhỏ hình chữ nhật, kích thước 0.025m x 0.15m, xem hình 22.

– 5 mẫu sử dụng để thí nghiệm xác định độ bền kháng kéo là: 1a, 2a, 3a, 4a, 5a.

– 5 mẫu sử dụng để thí nghiệm xác định độ bền kháng bóc là: 1b, 2b, 3b, 4b, 5b.

  1. b) Bảo dưỡng mẫu trong điều kiện tiêu chuẩn: a

– Nhiệt đô: 23 ± 2oC

– Độ ẩm: 50% ÷ 70%

– Thời gian: 40 h

B.3.2 Thiết bị thí nghiệm:

– Máy kéo vạn năng.

– Bộ cảm biến lực có thang đo từ 0 kN đến 100 kN.

– Bộ ngàm kẹp mẫu có thiết diện 0.0254m2.

B.3.3 Trình tự thí nghiệm:

– Thí nghiệm xác định độ bền kháng kéo: lắp mẫu như hình a, xem hình 22.

– Thí nghiệm xác định độ bền kháng bóc: lắp mẫu như hình b, xem hình 22.

– Chọn tốc độ kéo 0.050m/phút

– Cho máy chạy cho đến khi mẫu đứt hoàn toàn. Đọc và ghi kết quả, (lưu đối với máy tính).

– Lặp lại qui trình trên cho khi đến hết số lượng mẫu thử.

B.3.4 Tính toán kết quả:

– Độ bền kháng kéo của mối hàn là giá trị trung bình cộng của 5 mẫu thử : 1a, 2a, 3a, 4a, 5a.  trong đó:

TK – độ bền kháng kéo của mối hàn tính bằng Ibs/in (PPI) hoặc kN/m .

Tk1 , Tk2  , Tk3 , Tk4 , Tk5 – độ bền kháng kéo của các mẫu thử tính bằng Ibs/in (PPI) hoặc kN/m .

– Độ bền kháng bóc của mối hàn là giá trị trung bình cộng của 5 mẫu thử : 1b, 2b, 3b, 4b, 5b.

trong đó:

TB – là  độ bền kháng bóc của mối hàn tính bằng Ibs/in (PPI) hoặc kN/m.

Tb1 , Tb2   , Tb3 , Tk4 , Tb5 – độ bền kháng  bóc của các mẫu thử tính bằng Ibs/in (PPI) hoặc kN/m.

– In kết quả thí nghiệm và biểu đồ kéo đối với thiết bị điều khiển tự động kết nối với bộ xử lý số liệu của máy tính.

B.3.5 Đánh giá kết quả:

Đường hàn được nghiệm thu khi kết quả thí nghiệm độ bền kháng kéo và độ bền kháng bóc bằng hoặc lớn hơn các giá trị tương ứng theo tiêu chuẩn ASTM-D4437 ghi ở bảng 1.

B.3.6 Lưu mẫu

– Mẫu lưu hình chữ nhật có kích thước nhỏ nhất: chiều rộng x chiều dài = 0.305 m x 0.306 m.

– Lưu mẫu trong điều kiện tiêu chuẩn theo qui định của TCVN 8222 : 2009

– Thời gian lưu mẫu tối thiểu là 28 ngày.

 

Thư mục tài liệu tham khảo

 

+ TCCS 01 – 2007 – VKHTL, Hướng dẫn thiết kế thi công vải chống thấm trong công trình thủy lợi

+ ASTM-D 6392-99:   Standard Test Methods For Determining The Inegrity Of NonReinforced Geomembrane Seams Produced Using Thermo – Fusion Methods: “Phương pháp thí nghiệm xác định chất lượng đường hàn nhiệt đối với màng địa chất không dùng cho gia cố”

+ ASTM-D1004:   Standard Test Methods For tear resistance of plastic film and sheeting: “Phương pháp thí nghiệm xác định độ bền kháng xé”

+ ASTM-D638:   Standard Test Methods For properties of plastics: “Phương pháp thí nghiệm xác định tính chất của nhựa”

+ ASTM-D 5641-94:   Standard Practice For Geomembrane Seam Evaluation By Vacuum Chamber: “Tiêu chuẩn thí nghiệm hút chân không áp dụng cho đường hàn của màng chống thấm.”

+ GRI Standard GM13  Test Properties, Testing Frequency and recommended Warranty for  High Density Polyethylene (HDPE) Smooth and Textured Geomembranes: “ Phương pháp thử các tính chất, tần suất thí nghiệm và yêu cầu bảo hành đối với màng chống thấm HDPE nhẵn và nhám”.

+ GRI Standard GM14:  Selecting Variable Intervals for Taking Geomembrane Destructive Seam Samples Using the Method of Attributes Smooth and Textured Geomembranes: “ Chọn tần suất lấy mẫu đường hàn cho thí nghiệm phá huỷ đối với màng chống thấm nhẵn và nhám”.

Muối hữu cơ giúp cải thiện hiệu quả tăng trưởng của tôm thẻ

Các nghiên cứu gần đây cho thấy acid hữu cơ và các hợp chất muối của chúng có khả năng cường khả năng phát triển, tăng cường khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng, cân bằng hệ vi sinh đường ruột…

Muối hữu cơ giúp cải thiện hiệu quả tăng trưởng của tôm thẻ

Năm 2014, một nhóm nghiên cứu do Bruno dẫn đầu cho thấy khi bổ sung vào khẩu phần ăn của tôm 2 muối sodium butyrate và sodium propionate (đây là muối của 2 loại acid hữu cơ acid butyric và acid propionic) với các tỉ lệ khác nhau sẽ làm tăng thể trọng tôm, hiệu quả sử dụng thức ăn, khả năng hấp thu Nitơ, tỉ lệ hiệu quả Protein; tỉ lệ sống và sản lượng thu hoạch cao hơn so với khẩu phần ăn bình thường. Lượng Vibrio sp. trong đường ruột cũng giảm đáng kể khi kết hợp cho ăn với 2 loại muối hữu cơ này.

Tăng cường khả năng phát triển: Khi bổ sung butyrate và propionate (0,5%, 1% và 2%) vào khẩu phần ăn của tôm thì kết quả cho thấy đều tăng thể trọng tôm. Nhưng khi bổ sung 2% propionate vào khẩu phần ăn thì hiệu quả sử dụng thức ăn tăng rõ rệt, tỉ lệ sống tăng 4,3% so với khẩu phần ăn bình thường. Sản lượng thu hoạch cũng tăng từ 992 kg/ha lên 1127 kg/ha khi bổ sung 2% butyrate. Một nghiên cứu khác của Nuez-Ortin (2011) cho thấy tăng 9% thể trọng tôm và 3% tỉ lệ sống khi bổ sung 0,1% sodium butyrate vào thức ăn.

Tăng khả năng hấp thụ Nito và protein: khi bổ sung 0,5% propionate thì tỉ lệ hấp thu Nitơ tăng 5%, còn khi bổ sung 2% butyrate thì tăng 8%. Tỉ lệ hiệu quả Protein cũng tăng từ 1.05 lên 1.37 khi bổ sung 2% butyrate vào khẩu phần ăn.

Giảm lượng Vibrio sp. trong đường ruột: sau thời gian nuôi kết hợp với butyrate và propionate trong khẩu phần ăn, ruột tôm được tách biệt sau đó pha loãng rồi cấy lên môi trường đặc trưng để xác định lượng Vibrio sp. thì kết quả cho thấy lượng Vibrio sp. giảm rõ rệt so với ban đầu (từ 10^8 xuống 10^6 CFU/g sau 27 ngày nuôi).

Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng ứng dụng của các muối hữu cơ cũng như các acid hữu cơ vào ngành nuôi trồng thủy sản là rất lớn. Hiện nay trên thị trường cũng có nhiều loại sản phẩm chứa các gốc acid hữu cơ, bà con có thể cân nhắc để sử dụng có hiệu quả trong vụ nuôi của mình.

Source:
1. Bruno C. d. S., Felipe N. V., José L. P. M.,Norha B., Walter Q. S. (2014), Butyrate and propionate improve the growth performance of Litopenaeus vannamei, Aquaculture Research, 1–12.
2. Nuez-Ortin W.G. (2011), Gustor-aqua: an effective solution to optimize health status and nutrient utilization. International Aquafeed, 18–20.

Chế phẩm sinh học dùng trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Nhằm từng bước khắt phục và cải thiện dần môi trường phục vụ cho nghề nuôi tôm, với mục tiêu hướng đến một môi trường nuôi tôm bền vững, việc sử dụng chế phẩm sinh học vào nuôi tôm vốn đã được khuyến khích từ lâu.

Chế phẩm sinh học dùng trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Chế phẩm sinh học là gì ?

Chế phẩm sinh học, hay probiotics là hỗn hợp bổ sung các vi sinh vật sống tác động có lợi đối với vật chủ nhờ cải thiện hệ vi sinh vật trong ruột của vật chủ hoặc sống tự do trong môi trường, cải thiện việc sử dụng thức ăn hoặc tăng cường giá trị dinh dưỡng của thức ăn, cải thiện chất lượng nước của môi trường sống. Ngoài ra probiotics còn được coi là một hệ vi sinh vật sống, là toàn bộ hoặc các thành phần của vi sinh vật có lợi cho sức khỏe vật chủ. Thay cho việc tiêu diệt các bào tử vi khuẩn, chế phẩm sinh học được sản xuất với mục đích kích thích sự gia tăng các loài vi khuẩn có lợi trong ao trải bạt HDPE lót hồ tôm

Chế phẩm sinh học dùng trong nuôi tôm gồm các nhóm: Thức ăn bổ sung, tăng cường miễn dịch, gây màu, phân hủy mùn bã hữu cơ. Chế phẩm sinh học dùng trong nuôi tôm rất đa dạng và phong phú về dòng loại, thành phần của chế phẩm là vi sinh vật sống có lợi cho tôm, cải thiện giá trị dinh dưỡng của nguồn thức ăn cung cấp, hổ trợ tiêu hóa, nâng cao khả năng kháng bệnh, ngoài ra còn tăng cường hệ miễn dịch cho tôm.

Cơ chế tác động của chế phẩm sinh học

Tăng cường phản ứng miễn dịch: Hỗn hợp của dòng vi khuẩn Bacillus và vibrio sp. có ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng và có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại những ảnh hưởng của vi khuẩn Vibrio harveyi và vi rút đốm trắng. Sự bảo vệ này được kích thích bởi hệ thống miễn dịch bằng cách gia tăng thực bào và sự hoạt động của kháng khuẩn.

Cung cấp dinh dưỡng đa lượng và vi lượng: Một số nghiên cứu cho rằng vi sinh vật có tác động có lợi trong quá trình tiêu hóa của động vật thủy sản. Một số vi sinh vật có thể hổ trợ như nguồn thực phẩm bổ sung và hoạt động của hệ vi sinh trong đường tiêu hóa, có thể là nguồn cung cấp vitamin hoặc những acid thiết yếu cần thiết.

Tiết ra chất ức chế: một số vi khuẩn có lợi có thể sản xuất ra siderophores được ứng dụng trong chế phẩm sinh học để cạnh tranh với mầm bệnh bằng cách sản sinh ra siderophores và cạnh tranh sắt với tất cả các sinh vật cần sắt trong môi trường. Trong nuôi thủy sản, Thalassobacter utilis có tác dụng ức chế chống lại vi khuẩn Vibrio anguillarum, giảm lượng vi khuẩn Vibrio sp. trong nước ương, làm tăng tỷ lệ sống của ấu trùng tôm.

Cạnh tranh dinh dưỡng và năng lượng: Nhiều quần thể vi sinh vật cùng tồn tại trong cùng một hệ sinh thái thì sẽ có sự cạnh tranh về dinh dưỡng và năng lượng chủ yếu xảy ra ở nhóm dị dưỡng như cạnh tranh các chất hữu cơ.

Tương tác với thực vật thủy sinh: Theo các nghiên cứu gần đây một số dòng vi khuẩn có khả năng tiêu diệt một số loài tảo, đặc biệt là tảo gây ra hồng triều. Những dòng vi khuẩn này có thể không tốt với bể ương ấu trùng bằng nước xanh, tuy nhiên nó sẽ có lợi cho sự phát triển quá mức của tảo trong ao nuôi trải bạt HDPE lót hồ tôm. Nhiều dòng vi khuẩn khác cũng có khả năng kích thích sự phát triển của tảo.

Cải thiện chất lượng nước: Một số loài thuộc nhóm vi khuẩn Bacillus (Bacillus subtilis, Bacillus licheniformis, Bacillus sp.,..) dùng để làm sạch môi trường nhờ khả năng sinh các enzyme (proteaza, amylaza, xenlulaza) phân hủy các hợp chất hữu cơ và kiểm soát sự phát triển quá mức của vi sinh vật gây bệnh do cơ chế cạnh tranh nguồn dinh dưỡng giữ cho môi trường luôn ở trạng thái cân bằng sinh học.

Nhóm vi khuẩn Bacillus có thể sản xuất ra hàng loạt enzyme-exo, nó rất có hiệu quả đối với việc phá vỡ các phân tử lớn như protein và chất béo. Khi các dòng vi khuẩn Bacillus được thêm vào ao nuôi thường xuyên và ở mật độ cao, nó sẽ phân hủy các chất hữu cơ nhanh hơn những ao tự nhiên không có bổ sung vi khuẩn. Vi khuẩn Bacillus sẽ khử đạm, làm giảm chất thải hữu cơ và sử dụng nitrate khi thiếu oxi, đặc biệt vi khuẩn phát huy hiệu quả đáng kể trên đáy ao trải Bạt HDPE lót hồ tôm

Ứng dụng của chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Nuôi trồng thuỷ sản là một trong những nghề sử dụng tài nguyên thiên nhiên là đất và nước, luôn gắn bó với môi trường sinh thái, vừa phát triển một cách bền vững, lâu dài. Việc sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý nước môi trường nuôi trồng thuỷ sản là một phương án tối ưu đang được sử dụng khá phổ biến hiện nay. Việc sử dụng chế phẩm sinh học sẽ hạn chế sử dụng hoá chất và kháng sinh, tạo điều kiện thuận lợi nước ta bước vào thị trường khó tính một cách thuận lợi mà không phải gặp rào cản gì. Các chế phẩm sinh học sử dụng trong nuôi trồng thủy sản hiện nay có thể chia làm 3 nhóm:

– Nhóm 1: gồm các chế phẩm có tính chất Probiotic, gồm những vi sinh vật sống, chủ yếu là các vi khuẩn thuộc giống Bacillus, Lactobacillus, Saccharomyces, thường được trộn vào thức ăn cho Atemia, rotifer ăn trước khi cho các loại động vật thủy sản ăn.

– Nhóm 2: gồm các vi sinh vật có tính đối kháng hoặc cạnh tranh với vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn Bacillus licheniformis, Bacillus sp, Vibrio alginolyticus.

– Nhóm 3: gồm các vi sinh vật cải tạo môi trường nước như vi khuẩn Nitrosomonas, Nitrobacter, Actinomyces, các loài Bacillus khac nhau, các loài tảo, các vi khuẩn tía, không lưu huỳnh như Rhodobacter sp., Rhodospirillum, Rhodomicrobium vanneiell, R. Palutris, Rhodopseudomonas viridis, các loại nấm Aspergillus orezae, Aspergillus niger, Rhizopus sp.

Sử dụng chế phẩm sinh học sẽ cải thiện môi trường rất tốt: Giảm các chất độc trong ao như NH3, H2S…Cải thiện màu nước, ổn định pH, cân bằng hệ sinh thái, phân huỷ các chất hữu cơ, phòng tảo nở hoa và hấp thu nguồn tảo chết, tăng lượng oxy hoà tan trong ao; giúp tôm hấp thụ thức ăn tốt, giảm hệ số tiêu thụ thức ăn, kích thích hệ miễn dịch và đề kháng bệnh; giảm sốc khi môi trường biến đổi. Chế phẩm sinh học có ưu điểm hơn hẳn các loại hoá chất và kháng sinh ở chỗ hạn chế được tối đa độc tố gây hại cho tôm.

Thời điểm sử dụng chế phẩm sinh học trong ao nuôi tôm trải bạt HPDE

Khi cải tạo ao chuẩn bị vụ nuôi: sử dụng chế phẩm vi sinh để cấy vào ao nuôi lúc mới lấy nước vào và trước khi thả tôm giống 2 ngày sẽ giúp mật số vi sinh có lợi có sẳn trong ao để hạn chế vi khuẩn gây hại có cơ hội phát triển.

Định kỳ sử dụng CPSH hàng tuần để trộn vào thức ăn để tăng sức đề kháng chống lại mầm bệnh cho tôm, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn đồng thời sử dụng định kỳ vi sinh xử lý môi trường nước cứ mỗi 5- 7 ngày dùng 1 lần, khi đáy ao gần cuối vụ nuôi bị dơ thì nên dùng CPSH trộn với Zeolite để xử lý đáy ao sẽ hiệu quả hơn.

Khi mật độ tảo trong ao nhiều, màu sậm, độ trong thấp hơn 30 cm hay màu nước thay đổi liên tục, bọt trong ao nhiều thì cũng nên sử dụng vi sinh để cắt tảo, xử lý tảo tàn.

Quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng bằng công nghệ sinh học

Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao hợp, sinh đẻ trong những vùng biển có độ sâu 70 mét với nhiệt độ 26-28 độ C, độ mặn khá cao (35 phần ngàn). Trứng nở ra ấu trùng và vẫn loan quanh ở khu vực sâu này. Tới giai đoạn Potlarvae, chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn. Sau 1 vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm chọn chu kỳ. Tôm chân trắng lớn rất nhanh trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăng trưởng 3g với mật độ 100con/m2 tại Hawaii không kém gì tôm sú, sau khi đã đạt được 20g tôm bắt đầu lớn chậm lại, khoảng 1g/tuần, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực.

1. Chọn địa điểm xây dựng ao nuôi trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm

Đây là vấn rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư, xây dựng và mức độ rủi ro trong quá trình nuôi sau này, vì vậy khi chọn địa điểm xây dựng cần chú ý tới công việc chọn vùng nuôi cho phù hợp như nguồn nước, chất đất và cơ sở hạ tầng, thuận lợi về gao thông, gần nguồn điện, gần nơi cung cấp các dịch vụ cho nghề nuôi tôm, xa khu vực nước thải của các tập đoàn, xí nghiệp sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xa khu dân cư, đảm bảo an ninh trật tự tốt.

Vị trí và cơ sở hạ tầng

Vị trí: Hệ thống ao nuôi trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm được xây dựng phải thoả mãn được các yêu cầu kỹ thuật, thuận lợi cho quá trình cấp và thoát nước, cao trình đáy ao trải bạt HDPE, bạt lót hồ tômphải cao hơn mương và cống thoát nước. Đất xây dựng phải có độ kết dính cao, thuận lợi cho quá trình thi công xây dựng ao nuôi, chất đất có độ pH = 5,0 – 6,0, tránh những vùng đất sình, lầy, bùn nhiều vì những vùng này sẽ gây khó khăn cho quá trình thi công xây dựng và quản lý chất lượng nước ao nuôi trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm tôm sau này.

Nguồn nước: Nguồn nước đảm bảo được các thông số kỹ thuật, không bị ô nhiễm có độ mặn từ 10 – 30‰; pH ≥ 7…

Cơ sở hạ tầng: Vùng nuôi tôm chân trắng được xây dựng gần đường giao thông (đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không…) thuận lợi cho việc vận chuyển vật tư, thiết bị, thức ăn con giống và sản phẩm sau thu hoạch.

Thiết kế xây dựng ao nuôi

Công trình ao nuôi trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm tôm chân trắng có kết cấu tương tự như công trình nuôi tôm sú. Mô hình nuôi phổ biến hiện nay là mô hình ít thay nước, năng suất cao. Diện tích ao nuôi trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm được thiết kế từ 0,5- 1 ha. Hình dạng ao trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm thường có dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông mục đích để máy quạt nước dễ thu gom chất thải vào giữa ao. Đáy ao trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm bằng phẳng, có độ dốc khoảng 150C nghiêng về phía cống thoát nước. Mặt khác khi thiết kế ao nuôi tôm cần chú ý tính đến các vấn đề sau:

– Vị trí cống lấy cấp nước và hệ thống trạm bơm nước.

– Hệ thống ao trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm chứa nước, ao xử lý, ao lắng, hệ thống kênh mương cấp và thoát nước…

Ao chứa, lắng

Khu vực nuôi tôm phải có ao trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm chứa và lắng để trữ nước và xử lý nước trước khi cấp cho các ao nuôi, Diện tích ao chứa, lắng thường bằng 25 – 30% diện tích ao nuôi, nếu có điều kiện xây dựng ao pha đấu nước ngọt để pha đấu với nước mặn theo yêu cầu của kỹ thuật nuôi thì càng thuận lợi. Hệ thống ao chứa, lắng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý môi trừơng ao nuôi, ngăn ngừa dịch bệnh lây lan. Đồng thời còn có chức năng lọc sinh học để cải thiện chất lượng nước trước khi cấp vào ao nuôi tôm trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm

Ao xử lý nước thải

Khu vực nuôi tôm cần phải xây dựng hệ thống ao trải bạt HDPE, bạt lót hồ tômxử lý nước thải, để xử lý nước thải, phục vụ cho quá trình thay nước ao nuôi và sau khi thu hoạch tôm cũng như khi cải tạo ao. Diện tích ao bằng 5 – 10% diện tích khu vực nuôi.

Hệ thống bờ ao trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm, đê bao, mương cấp và thoát nước

Ao nuôi tôm thông thường có độ sâu 1,5-1,8 m và bờ ao tối thiểu cao hơn mặt nước 0,5 m, độ dốc của bờ phụ thuộc vào độ kết dính của đất, nếu đất cát bờ ao nên có độ dốc là 1/1,5, đất sét hoặc đất pha sét độ dốc bờ ao nên là 1/

Mương cấp và mương thóat nước

– Mương cấp nước và mương thoát nước phải được xây dựng riêng biệt, lưu lượng và lưu tốc của dòng chảy phù hợp với yêu cầu kỹ thuật khi cấp và thay nước cho ao nuôi tôm. Hệ thống mương cấp và mương thoát bằng 10% diện tích ao nuôi.

Cống cấp và cống thoát nước

Nếu có điều kiện nên xây dựng mỗi ao có hệ thông cống cấp nước và thoát nước riêng biệt, khẩu độ cống phụ thuộc vào diện tích ao, ao nuôi có diện tích 0,5-1 ha thì khẩu độ cống từ 0,5-1 m.

Vị trí đặt máy sục khí

Máy sục khí có nhiều chức năng, đặc biệt trong các ao nuôi tôm thâm canh là tạo dòng chảy, thu gom chất thải trong ao và cung cấp ôxy cho tôm nuôi. Vị trí đặt máy đảo nước, máy sục khí phụ thuộc vào hình dạng ao, chú ý khi máy đảo nước chạy phải tạo ra dòng chảy tròn trong ao, tạo khu vực đáy ao sạch càng rộng càng tốt, không làm các chất thải lắng tụ trong ao bị xáo trộn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý môi trường và chất thải trong ao nuôi tôm.

2. Chuẩn bị ao nuôi trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm

Chuẩn bị ao nuôi tôm là khâu quan trọng đầu tiên trong một vụ nuôi. Sau khi thu hoạch, cần loại bỏ lớp bùn đen ra khỏi đáy ao bằng cách tháo cạn nước và phơi khô đáy ao, sau đó dùng xẻng hoặc cào sắt nạo vét hết lớp bùn và chất lắng đọng hôi thối ở đáy ao ra ngoài. Tiến hành phơi khô đáy ao trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm, gia cố, chống sạt lở bờ ao và cải tạo ao.

Cải tạo ao

trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi-hdpe

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi-hdpe

bat-hdpe-lot-ho-tom-gia-tot-nhat-ha-noi

bạt-hdpe-lót-hồ-tôm-giá-tốt-nhất-hà-nội

Đối với ao mới xây dựng xong cho nước vào ngâm 2 – 3 ngày rồi xả hết nước, ngâm và tháo rửa như vậy 2 – 3 lần.

Đối với ao đã sử dụng: Có hai phương pháp cải tạo ao: Cải tạo khô hoặc cải tạo ướt, cũng có thể kết hợp giữa cải tạo khô và cải tạo ướt, tuỳ thuộc vào chất đất, độ pH của đất, điều kiện vùng nuôi để có phương pháp cải tạo ao thích hợp đảm bảo nền đáy ao sạch, chất lượng nước tốt và ổn định.

Bón vôi

Có nhiều loại vôi sử dụng được trong ao nuôi tôm, nhằm diệt tạp, nâng cao pH, tăng khả năng đệm của nước ao nuôi.

Sau khi dọn sạch chất thải cần cho một ít nước vào ao để rửa trôi các chất lắng đọng và mảnh vụn hữu cơ, kiểm tra độ pH của đất, nước. Đóng cống ngâm đáy ao qua một đêm sau đó tháo cạn nước ao cứ làm như vậy lặp đi lặp lại nhiều lần cho tới khi pH ổn định ≥ 7

Lượng vôi sử dụng cho ao lần cuối cùng phụ thuộc vào chất đất của đáy ao và độ pH

Một số loại vôi thường dùng để cải tạo ao và bón định kỳ cho ao nuôi tôm là: vôi nông nghiệp/ đá vôi hoặc vỏ sò xay CaCO3; Đá vôi đen (CaMg(CO3)2; Vôi tôi hay vôi ngậm nước Ca(OH)2; Vôi sống CaO (vôi nung hoặc vỏ sò nung).

Bảng: Lượng vôi dùng cho quá trình cải tạo ao nuôi tôm trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm

Độ pH đá vôi  CACO3 (KG/HA) Lượng vôi CA(OH)2 KG/HA
pH > 6 pH = 5 – 6 pH < 5
< 1.000 < 2.000 < 3.000
300 – 400 500 – 800 900 – 1.000

Chuẩn bị nước cho ao nuôi

Sau khi cải tạo ao, loại bỏ lớp bùn đen ở đáy ao, rửa ao, bón vôi, diệt tạp tiến hành lấy nước vào ao.

– Nước biển lấy vào ao chứa qua cửa cống khi thuỷ triều cao nhất, Sau đó xử lý và bơm nước vào ao nuôi. Những vùng nuôi không có ao chứa, lắng thì lấy trưc tiếp vào ao nuôi, nhưng cần phải xử lý thuốc tím KMnO4 nồng độ 3-5ppm hoặc Saponine nồng độ 10-15ppm. Sau khi nước trong tiến hành gây màu nước.

Gây màu nước: Thực chất là tạo môi trường thuận lợi cho tảo phát triển, tảo quang hợp mạnh sẽ cung cấp nhiều ôxy cho ao nuôi tôm. Chúng ta nên sử dụng các loại phân vô cơ NPK, phân vi sinh, men vi sinh hoặc chế phẩm sinh học bón xuống ao . Khoảng 7-10 ngày sau khi sử dụng phân bón, tảo trong ao phát triển, màu nước của ao có màu xanh nhạt thì chúng ta tiến hành thả tôm giống.

Với cách chuẩn bị như thế, hầu hết các ao nuôi tôm trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm thâm canh sau khi thả tôm giống một tháng không phải thay nước, chỉ cần bổ sung lượng nước hao hụt từ ao chứa, lắng (đã xử lý ) khoảng 20-30cm/lần và giữ mực nước ở ao nuôi với độ sâu tối thiểu từ 1-1,2m.

3. Chọn tôm giống và mật độ thả nuôi

Chọn tôm giống

Mục đích của việc chọn giống tôm và thả nuôi là đưa vào ao nuôi một lượng tôm giống phù hợp có chất lượng cao nhằm đạt năng suất ổn định.

Chọn con giống có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định phân lớn đến kết quả nuôi, việc đảm bảo đủ số lượng giống tôm thả nuôi theo yêu cầu ở các địa phương không phải là chuyện khó khăn. Tuy nhiên, để chọn được giống tốt, ít mầm bệnh hoặc sạch bệnh, đảm bảo tỷ lệ sống cao khi nuôi là việc làm hết sức cần thiết. Vì vậy khi chọn giống tôm thả nuôi cần dựa vào một số tiêu chuẩn sau:

– Kích thước, màu sắc, độ đồng đều của quần đàn, khả năng vận động đồng thời trước khi thả nuôi cần thiết phải kiểm tra tỷ lệ cảm nhiễm MBV và xét nghiệm đốm trắng (SEMBV) bằng phương pháp PCR.

– Mặt khác cần chọn giống tôm có nguồn gốc Hawaii, hoặc mua tại các công ty có uy tín, có chứng nhận xuất xứ nguồn gốc, con giống được sản xuất từ bố mẹ sạch bệnh (SPF) hoặc kháng bệnh (SPR).

Thả tôm giống

Việc thả giống tôm chân trắng cũng tương tự như tôm sú, tuy vậy có điểm khác là mật độ thả nuôi, do thời gian nuôi ngắn (trung bình từ 2,5-3 tháng) và kích cỡ thu hoạch nhỏ từ (80-100 con/kg), cho nên mật độ thả (từ 80-100 con/m2 là phù hợp.

4. Quản lý chủng loại thức ăn và số lượng thức ăn trong ao nuôi tôm trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm

Chủng loại thức ăn

Thức ăn sử dụng cho tôm nuôi hiện nay trên thị trường có rất nhiều nguồn: Thức ăn công nghiệp ngoại nhập, thức ăn công nghiệp sản xuất trong nước, thức ăn khô tự chế biến, thức ăn tươi…Trong quá trình nuôi tôm chân trắng chúng ta nên sử dụng thức ăn công nghiệp có độ đạm vừa phải (thấp hơn 38%).

Quản lý thức ăn và cho tôm ăn

Quản lý thức ăn là khâu rất quan trọng vì chi phí thức ăn cho một vụ nuôi chiếm tỷ lệ cao trong quá trong nguồn vốn đầu tư (45-50%) tổng chi phí sản xuất. Mục tiêu của nghề nuôi tôm là giảm giá thành, đạt lợi nhuận cao nhất và phát triển bền vững.

Xác định lượng thức ăn và cho tôm ăn

Lượng thức ăn hàng ngày cho tôm ăn dựa vào số lượng và trọng lượng trung bình của tôm nuôi. Tổng trọng lượng tôm nuôi được xác định theo công thức:

∑P tôm = PTB x ∑ Q

  • P: tổng trọng lượng tôm trong ao nuôi trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm
  • PTB: trọng lượng trung bình của 1 cá thể
  • Q: số lượng tôm trong ao nuôi trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm

(Số lượng tôm trong ao nuôi được ước lượng theo tỷ lệ sống trong quá trình nuôi hoặc tôm lớn thì dùng chài kiểm tra).

Lượng thức ăn cho tôm ăn: Do sự trao đổi chất của tôm giảm dần theo sự gia tăng của trọng lượng. Bởi vậy lượng thức ăn cho tôm ăn hàng ngày tăng về giá trị tuyệt đối và giảm dần về giá trị tương đối theo sự lớn lên của tôm. Khẩu phần ăn của tôm tính theo phần trăm trọng lượng thân sẽ giảm dần trong chu kỳ nuôi.

Khối lượng cơ thể (WG) Mức cho ăn (% Khối lượng cơ thể)
2 6,5
5 5,5
10 4,5
20 3,5
25 3,2
30 2,8

Số lần cho ăn: Trong điều kiện nhiệt độ bình thường thời gian thức ăn đi qua ruột từ 4-6 giờ, nên số lần cho ăn trong ngày là 4 lần là phù hợp. Thời gian đầu nhờ có lượng thức ăn tự nhiên có sẵn trong ao, chúng ta nên cho tôm ăn 3 lần/ngày vào lúc 6h; 17 h và 23 h sau đó sang tháng thứ 2 tăng lên 4 lần /ngày và duy trì đến cuối vụ nuôi.

– Phương pháp cho tôm ăn: Tập tính tôm chân trắng trong ao không bơi thành đàn để tìm thức ăn , vì vậy khi cho tôm ăn cần rải đều thức ăn khắp ao.

– Tháng đầu thả nuôi, tôm giống còn nhỏ, khả năng hoạt động, bơi lội còn yếu, sự phân bố của tôm trong ao không đều, việc sử dụng thức ăn còn ít, chủ yếu sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao. Thời gian này tôm phân bố ven bờ, vì vậy khi cho tôm ăn thức ăn công nghiệp cần rải đều ven bờ ao để tôm dễ bắt mồi. Khi kích cỡ tôm nuôi lớn thì tôm phân bố cách xa bờ hơn và đều khắp ao. Thời gian này khi cho tôm ăn cần rải thức ăn đều khắp ao.

Lượng thức ăn hàng ngày cho tôm ăn dựa vào bảng hướng dẫn cụ thể của hãng thức ăn mà người nuôi tôm đang sử dụng. Thông thường tháng đầu tiên tính lượng thức ăn hàng ngày bằng 1000/0 trọng lượng thân với tỷ lệ sống 100%.

Hàng ngày cần kiểm tra cường độ bắt mồi của tôm để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp theo từng lần cho ăn trong ngày (dựa vào thức ăn trong nhá tôm ăn còn nhiều hay hết). Đặc biệt tôm đang trong thời kỳ lột xác, thời gian thay nước, hoặc khí hậu, thời tiết thay đổi, môi trường ao nuôi có sự thay đổi cần giảm lượng thức ăn tránh hiện tượng dư thừa thức ăn gây ô nhiễm môi trường ao nuôi.

Khi cho ăn thường dùng “nhá” hoặc vó để kiểm tra thức ăn. Lượng thức ăn cho vào một “nhá” được tính theo công thức.

Lượng thức ăn trong một nhá = Khối lượng thức ăn cho tôm ăn x Số thức ăn cho vào nhá x 1600

Diện tích ao nuôi

Số nhá sử dụng để kiểm tra thức ăn trong ao nuôi trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm

Số nhá sử dụng để kiểm tra thức ăn = Diện tích ao nuôi trải bạt HDPE, bạt lót hồ tôm

Số thức ăn cho vào nhá phụ thuộc vào thời gian và trọng lượng của tôm nuôi

5. Quản lý chất lượng nước

Sử dụng phương pháp nuôi không thay nước. Cứ 1 tuần sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý môi trường nước. Chế phẩm sinh học có nhiều loại, nên dùng kết hợp chế phẩm sinh học xử lý đáy và xử lý môi trường nước ao nuôi. Khi môi trường có sự biến động về pH, tảo nên dùng vôi để điều chỉnh.

Quy trình nuôi tôm thâm canh ít thay nước thì 1-2 tháng đầu tiên không thay nước, chỉ cần bổ sung lượng nước cho ao nuôi do bốc hơi và thẩm thấu. Các tháng tiếp theo chỉ cần thay nước khi thật sự cần thiết để quản lý chất lượng nước giúp cho tôm nuôi sinh trưởng và phát triển tốt hơn.

6. Sục khí

Hiện nay trong nuôi tôm thâm canh ở các tỉnh Nam Trung Bộ và các tỉnh phía bắc đều sử dụng máy quạt nước (máy đảo nước), tạo dòng chảy kích thích tôm vận đông bắt mồi, thu gom chất thải tạo nền đáy ao sạch giúp tôm bắt mồi tốt, kích thích tảo phát triển hạn chế mức dư dinh dưỡng do dư thừa thức ăn tạo nên. Đồng thời tạo dưỡng khí cho tôm hoạt động.

Số lượng máy quạt nước phụ thuộc vào số lượng tôm thả nuôi và diện tích ao. Thông thường một cặp cánh đảo nước có thể cung cấp đủ dưỡng khí cho 3000-4000 con tôm (ao nuôi 0,5-1a, mật độ thả nuôi 80-100con/m2) thì dùng từ 4-5 máy quạt nước, mỗi máy khoảng 12-15 cánh quạt. Vị trí đặt máy quạt nước trên bờ ao phải đảm bảo tạo dòng chảy tốt trong ao.

7. Thu hoạch tôm

Trước khi thu hoạch khoảng 20 ngày, nếu độ mặn trong ao thấp, cần thiết phải tăng độ mặn, để thịt tôm săn và chắc. Đồng thời ngưng sử dụng thuốc hoặc các loại hoá chất khác, tránh hiện tượng tồn lưu và dư kháng sinh trong thịt tôm. Phương pháp thu hoạch tổng thể (thu toàn bộ), mắc lưới, đọn tháo nước qua cống hoặc bằng xiếc điện…đảm bảo tôm sạch, tươi xuất bán được giá cao.

8. Biện pháp phòng và trị một số bệnh trong nuôi tôm chân trắng

Tôm chân trắng trong tự nhiên cũng nhiều bệnh như các loại tôm khác. Song nhờ kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học ở viện hải dương Hawaii -Mỹ đã tuyển chọn và nhân giống được đàn tôm bố mẹ không mang mầm bệnh đặc biệt nguy hiểm là bệnh đốm trắng, bệnh đỏ đuôi. Do vậy đàn tôm sạch bệnh SPF (Specific Pathogen Free) hoặc kháng bệnh SPR ( Specific Pathogen Resistant ) được chọn làm tôm bố mẹ nhằm tạo ra đàn tôm giống chất lượng cao, đảm bảo cung cấp, phục vụ tốt cho người nuôi tôm thương phẩm đạt được năng suất và sản lượng cao.

Một số dấu hiệu của bệnh tôm

Thông thường màu sắc của tôm có liên quan đến các điều kiện môi trường sống của chúng. Sự thay đổi của vỏ tôm có thể biểu hiện sức khoẻ của tôm. Tôm yếu thường chuyển màu xanh da trời, màu trở đỏ, màu nhợt nhạt hoặc trên vỏ có các chấm đen… khác biệt với màu sắc bình thường của tôm.

Mặt khác quan sát kỹ ở trên các phần phụ bộ chân bơi, chân bò, đuôi bị hoại tử biến dạng…, tôm lột xác khó cứng vỏ. Các hiện tượng khác như: Tôm đóng rong, có những biến đổi ở mang, ruột, cơ ( thịt tôm)…

9. Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị

Bệnh thối mang

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Tia mang biến thành màu xám hoặc màu đen, mang to lên và cong queo, nếu bệnh nặng hơn kiểm tra trên kính hiển vi thấy có nhiều vi khuẩn và vi sinh vật bám.

Cách phòng trị: Cấp thêm nước mới, quản lý chất lượng nước bằng các loại men vi sinh và chế phẩm sinh học, hoặc dùng tỏi xay nhuyễn vắt lấy nước trộn vào thức ăn, hoặc dùng Iodine nồng độ:1-5 ppm tạt đều trên mặt ao.

Bệnh thối đuôi

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Bệnh nhẹ thì đuôi biến thành màu đen rách từng góc, nặng thì đuôi sưng tấy to, có dịch bên trong chân tôm bị đứt. Bệnh này phổ biến với tôm chân trắng. Nguyên nhân do bị cảm nhiễm nhiều loại vi khuẩn ăn mòn vỏ kitin

Cách phòng trị: Dùng Iodine nồng độ: 1-5 ppm tạt dều trên ao hoặc dùng Saponin nồng độ: 10-15 ppm ( ngâm nước tạt đều trên ao).

Bệnh đỏ chân

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Do phần gốc chân phần đầu ngực hay ở mang hoặc trên vỏ giáp khu vực tim có những đốm trắng sau lan dần ra các đốt ở phần bụng, 2 bên có những đốm trắng đối xứng nhau, phát triển thành màu đen, cũng có trường hợp cả màu đen và trắng cùng tồn tại. Nếu tỷ lệ cảm nhiễm cao thì tỷ lệ chết cũng cao. Nguyên nhân có thể do virus, hoặc do thiếu dinh dưỡng và vitamin.

Cách phòng trị: Khâu cải tạo ao làm triệt để đúng quy trình. Đồng thời chăm sóc, quản lý môi trường ao nuôi tốt (đặc biệt chất lượng nước ao nuôi). Dùng Oxytetracyline nồng độ 2-5ppm trộn vào thức ăn cho tôm ăn.

Bệnh nấm tơ bám

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Mang tôm biến màu đen hoặc màu nâu, các chân ngực hay chân bơi có màu xám bám đầy lông tơ. Nếu bệnh nặng thì mang chuyển sang màu vàng, xám, xanh trên đó có đầy lông tơ bám gây ảnh hưởng đến quá trình hô hấp, lột xác của tôm. Nguyên nhân do nước ao quá bẩn do đó vi khuẩn Leucothrix mucor có cơ hội phát triển phá hoại tế bào mang và biểu bì của tôm tạo điều kiện thuận lợi cho nấm ký sinh phát triển.

Cách phòng trị: Giu cho môi trường ao nuôi sạch, không ô nhiễm dùng Saponin từ 2-5ppm hoặc thuốc tím KMnO4 nồng độ 0, 5-3ppm, hoặc dùng formol nồng độ 5-10ppm.

Bệnh tiêm mao trùng

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Tiêm mao trùng bám vào mang, chân bơi, chân bò, mắt vỏ giáp… làm thành một lớp lông tơ có màu đen (xem kính hiển vi), tôm bị bệnh thường nổi lên mặt nước, bơi lờ đờ, bỏ ăn, phản ứng chậm, không lột xác được. Mặt khác ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hô hấp của tôm ( tiêm mao trùng có nhiều loại: trùng hình chuông, hình roi, hình đế dầy…) nguyên nhân do chất lượng nước ao nuôi tôm xấu.

Cách phòng trị: Gĩư cho môi trường nước ao nuôi sạch, định kỳ dùng men vi sinh và chế phẩm sinh học, Dolomid, zeolite, Saponin, KMnO4, formol, Iodine…

Bệnh đốm đen

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Vỏ giáp đầu ngực hoặc chân bơi, chân bò của tôm chuyển thành màu đen hoặc đốm đen sau đó lõm xuống tạo thành vết. Nếu bệnh nặng thì các phần phụ chân bơi, chân bò bị, lở, loét hoặc đứt…Nguyên nhân có thể do vi khuẩn xâm nhập vào.

Cách phòng trị: Dùng formol nồng độ 15-25ppm, sau đó thay nước mới. Kết hợp trộn thuốc Aureomycin hoặc Oxytetracyline từ: 0,5-3ppm

Bệnh mềm vỏ

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Tôm có màu xỉn, sau khi tôm lột xác vỏ không cứng, vỏ bị mềm, vỏ rời thịt, tôm bơi chậm chạp, bỏ ăn, không lột xác được và chết. Nguyên nhân do môi trường nước ao nuôi xấu, tôm kém ăn, thức ăn không đủ dinh dưỡng kéo dài…

Cách phòng trị: Cấp nước mới, quản lý đáy ao, thức ăn dư thừa, điều chỉnh sự phát triển của tảo phù hợp. Dùng chế phẩm sinh học- men vi sinh cải thiện đáy ao và nước nuôi, giữ pH ổn định trong khoảng 7,5-8,5.

Bệnh co cơ hay (hoại tử ở cơ)

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Phần bụng tôm có màu trắng đục có khi toàn thân trắng trắng đục. Có những trừng hợp toàn thân tôm co cứng lại mắt lồi ra rồi chết. Nguyên nhân do có sự thay đổi đột ngột của môi trường: nhiệt độ tăng cao hoặc nồng độ muối quá lớn…

Cách phòng trị: thả mật độ tôm vừa phải, phù hợp với trình độ quản lý, kỹ thuật, mùa vụ, thời tiết khí hậu của từng địa phương. Vào mùa nóng hoặc mùa lạnh ao nuôi tôm phải đạt được độ sâu mực nước ≥ 2m.

Bệnh đầu vàng

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Bệnh đầu vàng (YHV), chỉ là sợi đơn hình que được bao bọc bởi bào chất, virus gần giống với các virus thuộc họ Coronavus. Có 2 dạng bệnh đầu vàng gây chết cấp tính hoặc gây bệnh mãn tính. Tôm bệnh đầu vàng dạng cấp tính thường chết vào khoảng 20-45 ngày nuôi với mức độ chết 1000/00 trong vòng từ 3-5 ngày. Thân tôm thường chuyển sang màu tái, mang và gan tuỵ có màu vàng nhạt. Tôm bệnh đầu vàng dạng mãn tính thường chỉ gây chết ở tháng nuôi thứ ba trong điều kiện không quản lý được môi trường ao nuôi.

Cách phòng trị: Hiện nay vẫn chưa có biện pháp chữa trị. Phòng bệnh, tránh lây lan là chủ yếu( kiểm dịch tôm bố mẹ, tôm giống, cải tạo ao đìa, quản lý môi trường ao nuôi, thức ăn tốt). Nếu dịch bệnh bùng phát phải xử lý kịp thời và triệt để, tránh mầm bệnh phát tán lây lan…

Bệnh đốm trắng

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Tác nhân gây bệnh là do virus gây hội chứng đốm trắng (wssv). Đốm trắng do virus thường xuất hiện ở vỏ đầu ngực và ở phần đuôi đốt bụng 5&6. Các đốm trắng thường có kích thước đều nhau tròn và có tâm trong. Dạng đốm trắng nhỏ li ti gây chết tôm nhanh và tỷ lệ chết cao hơn so với dạng đốm trắng lớn. Bệnh này là bệnh nguy hiểm nhất hiện nay và gây thiệt hại nghiêm trọng, tỷ lệ tôm chết lên đến 1000/0 trong vòng từ 2-7 ngày.

Cách phòng trị: Xét nghiệm chọn giống sạch bệnh kết hợp với gây sốc tôm post với formol, loại những cá thể post yếu trước khi thả nuôi. Chọn mùa vụ nuôi thích hợp, tránh lấy nước trực tiếp từ ngoài tự nhiên mà nên để lắng khoảng thời gian ít nhất 5-7 ngày, nhằm giảm thiểu virus trong nước cấp. Đồng thời hạn chế mức thấp nhất sự xâm nhập của các tác nhân chuyên chở mầm bệnh như các loại giáp xác hoang dã. Định kỳ xử lý formol 25-30pmm. Chưa có thuốc trị. Chưa có vaxcine phòng bệnh.

Bệnh nhũn mắt

Triệu chứng và tác nhân gây bệnh: Do virus xâm nhập cầu mắt của tôm phồng lên, mắt từ màu đen chuyển sang màu tro, dần dần hình thành một màng trắng che lấy mắt, nếu tôm bị bệnh nặng thì toàn thân tôm cũng biến thành màu trắng, hoạt động bơi lội bắt mồi kém, tôm kém ăn, dạt vào bờ hoặc quay tròn trên mặt nước. Tôm nuôi chết sau 5-7 ngày.

Cách phòng trị: Quản lý môi trường ao nuôi tốt, chất lượng nước và một số yếu tố môi trường ổn định ( như:pH, nhiệt độ nước, sự phát triển của tảo, màu nước ao, đáy ao…). Chưa có thuốc và vaxcine phòng, trị.

Khuyến cáo: Xử lý bệnh virus đốm trắng và đầu vàng…tránh lây lan trong vùng nuôi tôm thâm canh.

– Trường hợp tôm nuôi phát bệnh trong thời gian tháng đầu: Xử lý chlorine 30-40mg/l để diệt hết tôm trong ao. Sau 15 ngày nước ao trở nên an toàn, tiến hành cải tạo ao mới thả tôm trở lại.

– Nếu tôm phát bệnh ở tháng nuôi thứ hai: Tiến hành thu bớt tôm bằng xiếc điện, không xả nước ra ngoài. Sau đó xử lý ao nuôi như trên.

– Nếu tôm phát bệnh ở tháng nuôi thứ ba: Tiến hành thu tôm ngay, sau đó xử lý nước trong ao như trên và tiến hành cải tạo lại ao mới thả tôm giống.

Hội chứng taura (TSV)

Tác nhân gây bệnh: Hội chứng Taura (TSV) gây ra bởi virus hội chứng taura ( TSV). Nó tạm thời được xếp vào họ Picomaviridae (dựa vào hình thái học của nó).

Dấu hiệu bệnh lý: Hội chứng Taura gây hại nghiêm trọng cho hậu ấu trùng tôm chân trắng (P. vannamei) khoảng 14-40 ngày tuổi, sau khi thả vào ao nuôi, tuy nhiên ở các giai đoạn lớn hơn chúng vẫn có thể bị lây nhiễm nặng. Hội chứng Taura được chia thành 3 giai đoạn:

10. Giai đoạn cấp tính:

Ở giai đoạn này phần lớn tôm nuôi bị chết hàng loạt. Ở giai đoạn cấp tính biểu mô cutin bị tác động mạnh nhất. Tỷ lệ tôm chết cao (40-900/00). Số tôm còn lại sống sót sẽ chuyển qua một giai đoạn chuyển tiếp ngắn rồi sang giai đoạn mãn tính và có thể sống sót. Giai đoạn cận lâm sàng của việc nhiễm bệnh này được coi là có tham gia vào việc lan truyền bệnh qua vật mang virus Taura sống.

11. Giai đoạn mãn tính của vật mang bệnh:

Ở giai đoạn mãn tính, cơ quan bạch huyết là nơi có ưu thế bị bệnh hơn cả.

Các biện pháp kiểm soát bệnh: Khả năng loại trừ bệnh phụ thuộc vào việc loại bỏ hoàn toàn nguồn tôm lây nhiễm, việc tiệt trùng cơ sở nuôi, tránh tái nhiễm virus ( từ các thiết bị nuôi ở gần đó, tôm tự nhiên hoặc các vật mang bệnh cận lâm sàng…) và thả lại tôm giống mới sạch virus hội chứng Taura (TSV), từ nguồn tôm bố mẹ sạch bệnh virus hội chứng Taura.

Quản lý thức ăn cải thiện lợi nhuận trong nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh

tôm-thẻ-chân-trắng

tôm-thẻ-chân-trắng

tom-the-chan-trang

tom-the-chan-trang

Khoảng 50% chi phí hoạt động nuôi tôm đến từ lượng thức ăn thủy sản được sử dụng. Quản lý thức ăn phải đối mặt với một số thách thức rất lớn. Thức ăn tôm chìm xuống đáy ao và việc cho ăn đầy đủ không thể theo dõi được bằng trực quan như nuôi cá. Nhu cầu thức ăn thay đổi hàng ngày vì điều kiện thời tiết và biến động chất lượng nước.

Do mật độ thả cao trong một thể tích nước ít, việc cho ăn quá mức có thể nhanh chóng gây quá tải hệ sinh thái ao, dẫn đến những thay đổi về chất lượng nước và hệ vi sinh vật cơ hội nở rộ – một số trong hệ vi sinh vật đó có thể gây bệnh. Sự hiểu biết tốt hơn trong quản lý cho tôm ăn có thể tránh được những vấn đề này và cải thiện lợi nhuận rất nhiều.

Chất lượng thức ăn

Không phải tất cả thức ăn được tạo ra như nhau. Một số thức ăn có khả năng tiêu hóa, hàm lượng axít amin, hàm lượng axít béo tốt hơn và có đầy đủ các chất kích thích miễn dịch. Lựa chọn một loại thức ăn chất lượng tốt ổn định sẽ dẫn đến sức tăng trưởng trung bình hàng ngày, tỉ lệ sống và hệ số chuyển hoá thức ăn tốt hơn, nhờ đó cải thiện lợi nhuận tốt hơn.

Lên kế hoạch cho ăn căn cứ theo sàng ăn

Các bảng hướng dẫn cho ăn do một nhà máy sản xuất thức ăn hoặc cá nhân người nuôi phát triển đều được dựa trên nhiều thử nghiệm và sai số. Chương trình cho ăn trong 25 – 30 ngày nuôi đầu tiên sau khi thả hậu ấu trùng (postlarvae) được gọi là cho ăn mù. Lượng thức ăn hàng ngày cho tôm giống postlarvae được cố ý cho ăn quá mức. Phần lớn thức ăn thực sự là để tạo dinh dưỡng (gây màu) cho nước ao và đi vào chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái ao rồi chủ yếu cuối cùng vào trong tôm.

Trong giai đoạn đầu này, hậu ấu trùng thích ăn thức ăn tự nhiên hơn. Phải đến 22-25 ngày sau khi thả giống thì tôm ấu niên bắt đầu ăn thức ăn công nghiệp. Chất lượng tôm giống postlarvae tốt hơn phát triển nhanh hơn và bắt đầu tiêu thụ thức ăn sớm hơn.

Vài tuần sau khi thả giống, nên sử dụng sàng ăn để theo dõi xem lượng thức ăn chính xác hay chưa. Biện pháp này rất quan trọng trong nuôi tôm thâm canh / công nghiệp, bởi vì chất lượng nước có thể thay đổi đột ngột, bị tác động bởi các điều kiện thời tiết và thức ăn đầu vào. Thông qua việc tỉ mỉ theo dõi sàng ăn, người nuôi có thể phát hiện ra tốc độ ăn chậm lại và điều chỉnh lượng thức ăn, nhờ đó nâng cao sức khỏe tôm.

Một rào cản nước kích thước 90cm x 120 cm ở vị trí ngược dòng cách sàng ăn 15 đến 30 cm có thể đảm bảo thức ăn không bị cuốn trôi bởi dòng chảy mạnh từ thiết bị sục khí.

Chất lượng nước

“Để nuôi tôm, đầu tiên phải gây màu nước” là câu châm ngôn của nhiều người nuôi tôm ở châu Á. Do tôm được nuôi trong một không gian nhỏ với một lượng nước ít để tối đa hóa lợi nhuận, các chất bài tiết từ tôm, thức ăn thừa và vô số vi sinh vật cơ hội sinh trưởng trong đó tạo căng thẳng rất lớn đến hệ sinh thái ao.

Bất kỳ những gì đưa vào trong ao có thể ảnh hưởng nhiều đến chất lượng nước trong một thể tích nước ít, nên ao vừa là “nhà bếp” cũng vừa là “nhà vệ sinh” của tôm. Người nuôi tôm luôn luôn phải có một phương pháp tiếp cận toàn diện trong việc quản lý ao, đặc biệt theo dõi kỹ chất lượng nước và vệ sinh đáy ao.

Hai thông số chính ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe tôm là các mức amoniac (NH3) và hydrogen sulfide (H2S). Sự hiện diện của ammonia và hydrogen sulfide nhanh chóng tăng lên nếu cho ăn quá mức.

Amoniac – sản phẩm phụ của sự phân hủy chất đạm (protein), trở nên độc ở pH cao hơn 8.5. Thức ăn thừa, phân tôm và vi sinh vật đã chết biến thành hydrogen sulfide ở khu vực kỵ khí của đáy ao. Hydrogen sulfide trở nên độc ở pH 6,5 và nhiệt độ cao.

Trong các ao nuôi tôm thâm canh ít thay nước hoặc có độ mặn thấp có thể thiếu các khoáng chất như magiê, kali và canxi do tôm hấp thu trực tiếp từ nước, do đó phải định kỳ theo dõi để đảm bảo lượng mức tối ưu.

Chất lượng đáy ao, loại bỏ bùn

Nếu không quản lý việc cho ăn và chất lượng nước tốt thì phân tôm, thức ăn thừa và vi sinh vật chết đều chìm ở đáy ao sẽ tích lũy ở các vùng nước tù và biến thành bùn. Vi khuẩn gây bệnh phát triển vô khối trên bùn giàu dinh dưỡng. Khi thức ăn cho thêm vào ao chìm ở những chỗ này sẽ bị nhiễm các loài vi khuẩn gây bệnh, nếu tôm ăn vào có thể bị bệnh.

Người nuôi nên theo dõi định kỳ đáy ao, đặc biệt trong các hệ thống nuôi bán thâm canh có ít thiết bị sục khí. Các khu vực bùn có thể được đánh dấu bằng sào để không cho thức ăn vào chỗ đó. Trong các hệ thống thâm canh, các thiết bị sục khí thường quét bùn vào khu vực nước tù mà bùn ở đó có thể định kỳ tháo ra. Một số người nuôi thậm chí hút bùn / siphon định kỳ.

Máy cho tôm ăn

Việc sử dụng máy cho ăn tự động đầu tiên trong nuôi tôm là một cuộc cách mạng. Trong quá khứ, người ta nghĩ thức ăn phải được rải đều khắp ao để tất cả tôm có thể ăn được tối đa. Nhưng với máy tự động cho ăn, tôm tìm đến chỗ đặt máy cho ăn khi bị đói.

Một máy cho tôm ăn tự động phân tán các lượng nhỏ thức ăn ngắt quãng trong vài phút. Phần lớn thức ăn được tôm ăn trước khi nó chìm xuống đáy ao. Thức ăn không có thời gian để mất chất dinh dưỡng hoặc nhiễm vi khuẩn gây bệnh từ đáy ao.

Tác giả đang thử sử dụng máy cho ăn tự động để rải thức ăn trên diện tích chỉ có 300 m2 trong một ao 8.000 m2. Mức tăng trưởng, tỉ lệ sống và chuyển hóa thức ăn đạt được tốt hơn so với cách rải thức ăn đều khắp ao theo tập quán.

Nhịn ăn

Cho nhịn ăn hay ngưng cho ăn là cách thực hành hữu ích không chỉ giúp cho tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, Litopenaeus vannamei bới tìm và ăn sạch các chất hữu cơ còn lại trên đáy ao, mà còn giúp cho hệ vi sinh vật trong ao kịp tiêu thụ các chất dinh dưỡng màu mỡ trong nước. Cả hai hoạt động này đều làm đáy ao sạch và chất lượng nước tốt hơn. Đó là cách thực hành tốt để thỉnh thoảng hàng tuần cho nhịn ăn một nửa ngày đến một ngày khi tôm trên 70 ngày tuổi.

Giảm khẩu phần thức ăn sau khi mặt trời lặn cũng là một cách thực hành tốt, bởi vì hầu hết các ao đều phải chịu đựng hàm lượng hòa tan oxy thấp vì không có quá trình quang hợp.

Tốt nhất là ngưng cho ăn hoàn toàn nửa ngày hoặc hơn nếu nhiệt độ nước dưới 26 °C và thức ăn trong sàng không được ăn hết.

Công nghệ Biofloc

Công nghệ Biofloc đang tiến triển trở nên một khía cạnh ngày càng quan trọng hơn đối với nuôi trồng thủy sản. Trong hệ thống biofloc, sục khí mạnh để giữ chất hữu cơ lơ lửng liên tục. Một lượng đáng kể vi sinh vật “cõng” trên các chất hữu cơ, tái chế các chất dinh dưỡng màu mỡ sẵn có trong nước ao.

Trong các hệ thống nuôi biofloc, sục khí mạnh giữ chất hữu cơ lơ lửng liên tục. Một lượng đáng kể vi sinh vật “cõng” trên các chất hữu cơ, tái chế các chất dinh dưỡng màu mỡ sẵn có trong nước.

Những gì thành chất thải trong nuôi trồng thủy sản theo tập quán thành thức ăn tự nhiên cho các loài thủy sản nuôi, tiết kiệm đáng kể chi phí thức ăn cho người nuôi. Tuy nhiên, chỉ có nhóm thủy sản ăn lọc như L. vannamei và cá rô phi có thể hưởng lợi từ thức ăn tự nhiên trong một hệ thống biofloc.

Khả năng tải

Các ao khác nhau có khả năng tải khác nhau. Ví dụ, ao sạch mới có thể sản xuất 1.000 kg tôm / sục khí 1 hp. Tuy nhiên, các ao có đáy cũ và dơ có thể chỉ sản xuất 400 kg / sục khí 1 hp.

Khả năng tải được xác định bởi các yếu tố như mức công nghệ được áp dụng ở trang trại, cách thức xây dựng ao (ví dụ như ao đất, ao lót bạt nhựa hoặc ao bê tông) và số lượng quạt nước/sục khí. Năng suất ao có thể dao động từ 10 – 50 tấn tôm / ha.

Khi đạt tới khả năng có thể tải của ao thì sẽ phát sinh các vấn đề như mức oxy hoà tan thấp, tăng trưởng chậm, dịch bệnh và tỷ lệ chết. Ở những thời điểm này, tốt nhất là thu hoạch một phần hoặc toàn bộ ao để bảo toàn vốn.

Nhiệt độ

Tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương là nhóm thủy sản háu ăn và ăn nhiều hơn ở nhiệt độ cao hơn. Trong nghiên cứu, Tiến sĩ Chalor Limsuwan của Đại học Kasetsart tại Thái Lan cho thấy, tôm ăn nhiều hơn ở nhiệt độ 32 °C so với ở 30 °C. Tuy nhiên, mức tăng trưởng của tôm ở cả hai nhiệt độ là như nhau, vì vậy để tiết kiệm thức ăn và tiền, người nuôi không nên cho tôm ăn quá mức ở nhiệt độ trên 30 °C.

Thận trọng thả nuôi tôm thẻ

Thời tiết thất thường nên nuôi tôm trở nên rất khó. Nếu không tuân thủ lịch thả nuôi và thả giống không có chất lượng thì nguy cơ thất bại là rất lớn.

9272_Nông-dân-thường-xuyên-theo-dõi,-kiểm-tra-ao-nuôi-tôm-trong-mùa-mưa

Theo Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Khánh Hòa, vụ tôm xuân hè 2015 dự kiến toàn tỉnh sẽ thả nuôi khoảng 2.000 ha tôm thẻ chân trắng (TTCT), tập trung tại 5 vùng triều ở các huyện Ninh Hòa, Vạn Ninh, Cam Lâm, TP Cam Ranh và TP Nha Trang.

Chi cục khuyến cáo người nuôi cải tạo ao trải màng-hdpe-chống-thấm đìa kỹ lưỡng, chọn con giống chất lượng tốt, thả đúng lịch thời vụ đã ban hành. Theo đó, TTCT thả giống từ tháng 2 đến hết tháng 9. Đối với nuôi trong ao màng-hdpe-chống-thấm đất, nên thả với mật độ trên 60 con P12/15m2, nuôi trong ao lót bạt thả với mật độ trên 60 con P12/15m2.

Tuy nhiên, trước khi thả nuôi cần kiểm tra, xét nghiệm các bệnh nguy hiểm và theo dõi diễn biến thời tiết và bản tin “Nông hộ cần biết cho NTTS” của Trung tâm KN-KN để nắm về nhiệt độ, bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa.

Nếu thời tiết không thuận lợi cho tôm nuôi thì tạm dừng thả giống. Sau khi thả phải thông báo cho cơ quan quản lý tại địa phương về thời gian thả nuôi, diện tích; số lượng thả nuôi, phiếu xét nghiệm và giấy kiểm dịch.

Trong quá trình nuôi tuyệt đối không dùng các loại thức ăn, hóa chất và kháng sinh cấm không được ban hành trong danh mục của Bộ NN-PTNT.

Bà Trần Thanh Thuý, Phó Chi cục trưởng Chi cục NTTS Khánh Hòa cho biết, rút kinh nghiệm cho những năm trước việc nuôi tôm xé rào của bà con thường bị thất bại dẫn đến thua lỗ đậm. Vì vậy, năm nay bà con cần tuân thủ nghiêm ngặt việc thả nuôi. Hiện các vùng nuôi đã cải tạo xong ao màng-hdpe-chống-thấm đìa, một số nơi bắt đầu thả giống như xã Ninh Phú, phường Ninh Giang (TX Ninh Hòa).

“Ngoài việc đưa ra khuyến cáo lịch thời vụ, để hạn chế dịch bệnh trên tôm thì chất lượng giống là hết sức quan trọng. Ngay từ đầu năm chúng tôi đã tổ chức khảo sát các cơ sở cung ứng tôm giống trên địa bàn, chỉ đạo các cấp khuyến cáo người nuôi lựa chọn nơi cung cấp tôm giống có chất lượng, uy tín.

Đồng thời triển khai kế hoạch phòng chống dịch bệnh NTTS trên địa bàn, theo dõi chặt chẽ các vùng nuôi và có báo cáo từng tháng để nắm tình hình nuôi trồng. Nếu gặp bất trắc trong quá trình nuôi như dịch bệnh hay thời tiết chúng tôi sẽ tham mưu chỉ đạo, ban hành văn bản hướng dẫn kịp thời cho vùng nuôi để người nuôi yên tâm SX”, bà Thúy nói.

Tại khu vực Đá Đen, xã Ninh Ích, TX Ninh Hòa những năm trước, người nuôi luôn thả giống trước tết song thua lỗ vì dịch bệnh. Năm nay người nuôi đã ý thức và tuân thủ lịch thả nuôi của cơ quan chức năng.

Bà Phan Thị Thi, Phó Chủ tịch UBND xã Ninh Ích cho biết: “Năm nay người tôm địa phương có ý thức tốt trong việc chỉ đạo lịch thời vụ, không còn cảnh xé rào nuôi như những năm trước. Vụ 1 năm nay toàn xã sẽ thả 150 ha TTCT, trong đó hơn 50% diện tích thả nuôi theo thâm canh”.

Anh Trần Văn Tuấn, một người nuôi tôm ở thôn Tân Đảo cho biết, gia đình anh có 2 ao màng-hdpe-chống-thấm với tổng diện tích 4.500 m2. Đây là vụ chính nên được gia đình anh dồn sức và vốn liếng để ưu tiên thả toàn bộ diện tích. Vì vậy hơn 1 tháng qua công tác chuẩn bị ao đìa đã được gia đình hoàn tất.

“Bây giờ thời tiết thất thường nuôi tôm trở nên rất khó. Nếu không tuân thủ lịch thả nuôi và thả giống không có chất lượng thì nguy cơ thất bại là rất lớn”, anh Tuấn chia sẻ.

Người nuôi tôm ở phường Ninh Hà (TX Ninh Hòa) cũng đang cải tạo ao nuôi trải màng-hdpe-chống-thấm và đợi ngày thả giống theo quy định. Ông Nguyễn Minh Nhật, Phó Chủ tịch phường Ninh Hà cho biết, đợt 1 năm nay toàn phường sẽ thả 470 ha, trong đó 420 ha TTCT.

Tuy nhiên việc thả giống tại địa phương không đồng loạt, mà tùy theo điều kiện từng vùng có điệu kiện sẽ được thả trước. Theo đó, vùng nuôi ở sông Đình, Công Xi, Bến Cũ sẽ thả giống từ cuối tháng 2 đầu tháng 3/2015; vùng Cống 2, Bến Giá, Hòn Hoãi thả từ ngày 8/3; vùng Cồn Hà Liên, Lò Vôi thả cuối tháng 3/2015.

Ông Lê Văn Sỹ, phụ trách NTTS ở khu vực Hà Liêm cho biết: “Chúng tôi đã thống báo lịch thời vụ đến người nuôi cũng như khuyến cáo chọn con giống chất lượng, hạn chế sử dụng hóa chất, thả mật độ vừa phải, từ 30 – 50 con/m2. Khi tôm nuôi có triệu chứng khác thường hoặc kiểm tra thấy tôm chết phải báo ngay Ban chỉ đạo phòng chống dịch bệnh NTTS ở phường để có biện pháp xử lý. Nhìn chung bà con đã tuân thủ nghiêm ngặt”.

Tôm hùm “chết yểu”

Theo nhiều người nuôi tôm ở TX Sông Cầu (Phú Yên), hiện giá tôm hùm thương phẩm giảm xuống chỉ còn 1,4 triệu đồng/kg, giảm 500.000 đ/kg so với thời điểm trước Tết Ất Mùi.

Nguyên nhân do nhiều lồng bè có tôm nuôi khoảng 10 tháng tuổi, trọng lượng 0,2 – 0,3 kg/con chết rải rác, người dân bán rẻ kéo theo giá tôm thương phẩm giảm theo.

Thời gian nuôi tôm hùm khoảng 18 tháng thu hoạch, trọng lượng tôm đạt từ 1,2 – 1,5 kg/con, sau khi trừ chi phí mỗi lồng nuôi lãi 20 triệu đồng, thế nhưng trình trạng tôm nuôi chết có dấu hiệu gia tăng, bà con rất lo ngại.

Nhu cầu khoáng của tôm thẻ chân trắng

Hiện nay, protein thực vật đang được sử dụng để thay thế dần bột cá trong khẩu phần thức ăn thủy sản nói chung và thức ăn tôm nói riêng. Tuy nhiên các chất kháng dinh dưỡng đặc biệt là phytate có trong nguyên liệu thực vật có khả năng liên kết chặc chẽ với các muối khoáng canxi, magiê, sắt và kẽm làm giảm độ tiêu hóa các khoáng chất gây thiếu khoáng cho tôm nuôi.

Nhu cầu khoáng của tôm thẻ chân trắng

Khoáng chất đóng vai trò quan trong thành phần dinh dưỡng của các loài động vật thủy sản, nhất là trong mô hình nuôi tôm thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp. Việc bổ sung các khoáng chất không những giúp cho tôm nuôi khỏe mạnh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng miễn dịch.

PHÂN LOẠI:

Khoáng bao gồm các nguyên tố vô cơ cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm. Căn cứ theo nhu cầu khoáng được chia làm 2 nhóm đa lượng và vi lượng:

Nhóm khoáng đa lượng bao gồm: Canxi (Ca), Magie (Mg), Photpho (P), Na (Natri), Kali (K), Chloride (Cl),…

Chức năng chung của các khoáng chất bao gồm các thành phần của bộ xương ngoài, cân bằng áp suất thẩm thấu, tham gia vào các thành phần cấu trúc của các mô, truyền xung động thần kinh và co cơ. Khoáng chất đóng vai trò như thành phần thiết yếu cho các enzyme, vitamin, hormone, sắc tố, yếu tố đồng vận chuyển trong quá trình chuyển hóa, chất xúc tác, và hoạt hoá enzyme. Tôm có thể hấp thụ hoặc bài tiết khoáng chất trực tiếp từ môi trường nước qua mang và bề mặt cơ thể. Vì vậy, yêu cầu khoáng chất trong chế độ ăn phần lớn phụ thuộc vào nồng độ khoáng chất trong môi trường nước nuôi tôm.

* Canxi (Ca), photpho (P):

Đối với tôm Ca và P cần thiết cho quá trình hình thành vỏ kitin. Ca còn tham gia vào quá trình động máu, co cơ, dẫn truyền thông tin thần kinh, duy trì áp suất thẩm thấu.

P còn có vai trò trong quá trình biến dưỡng các chất dinh dưỡng trong cơ thể, tham gia vào cấu trúc phosphate hữu cơ như: nucleotide, phospholipid, coenzyme, DNA, các acid nhân và tham gia trực tiếp vào các phản ứng tạo năng lượng của tế bào. P vô là thành phần của hệ thống đệm, để duy trì pH dịch tế bào và ngoại tế bào P hầu như chỉ được lấy từ thức ăn đặc biệt trong mô hình nuôi thâm canh P là yếu tố cần được bổ sung vào thức ăn. Dấu hiệu thiếu P là sinh trưởng chậm, hiệu quả sử dụng thức ăn và hàm lượng khoáng trong vỏ giảm. Ngoài ra thiếu P cũng ảnh hưởng tới các thành phần khác trong cơ thể như tăng lượng lipid và giảm lượng nước.

Lượng P hấp thụ từ thức ăn thay đổi theo hàm lượng và trạng thái tồn tại của P có trong thức ăn. Đồng thời sự hấp thụ P còn lệ thuộc vào hàm lượng Ca có trong thức ăn. Sự gia tăng P trong thức ăn sẽ làm gia tăng mức độ tích luỹ Ca và P trong cơ thể cá.

* Magie (Mg): rất quan trọng trong sự cân bằng bên trong và ngoài tế bào của tôm. Mg tham gia vào quá trình hô hấp tế bào và những phản ứng truyền dẫn phosphate. Mg có vai trò quan trọng trongmột số hệ thống enzyme kích hoạt cho tất cả các phản ứng trong quá trình trao đổi chất lipid, carbohydrate và protein cung cấp năng lượng cho tôm.  Nếu thiếu Mg tôm thẻ dễ bị đục cơ và cong thân, mềm vỏ, tình trạng này kéo dài ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và làm chết tôm.

Trong tự nhiên tôm có thể hấp thu lượng lớn khoáng từ nước biển như Ca, Na, Cl, và Mg. Tuy nhiên ở điều kiện nuôi công nghiệp mật độ cao, độ mặn tương đối thấp hầu như không lấy được Ca, Mg từ môi trường nên thức ăn của những loại các này cần lưu ý vì hàm lượng Ca, P, Mg trong thức ăn thấp sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng làm cho tôm chậm lớn, tôm lột khó cứng vỏ, gây ra hiện tượng đục cơ và cong thân thường thấy trong quá trình nuôi tôm thẻ.

* Các khoáng đa lượng khác: Na+, Cl– và K+ tham gia vào quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu, hoạt động enzyme Na+/K+ ATPase trong tế bào, cần bằng acid – bazơ, duy trì cấu trúc màng tế bào. Na+ có chức năng trong dẫn truyền xung động thần kinh cơ dẫn truyền thần kinh. K+ có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tôm. Tôm thẻ chân trắng có biểu hiện biếng ăn, hoạt động kém, tăng trưởng chậm, thậm chí chết khi thiếu K+.

Nhóm khoáng vi lượng bao gồm: nhôm (Al), Coban (Co), Chrom (Cr), đồng (Cu), Flo (F), Iod (I), Sắt (Fe), Mangan (Mn), Selenium (Se), Silic (Si), Niken (Ni), Kẽm (Zn),…

* Đồng (Cu )

Là thành phần nhiều enzyme có tính oxy hoá và có vai trò quan trọng trong sự hô hấp, cần thiết cho sự lột xác và tăng trưởng của tôm, là thành phần của sắc tố đen (Melanin), và hemocyanin trong máu tôm. Thiếu Cu làm tôm sinh trưởng chậm, làm giảm hàm lượng Cu trong máu, gan tụy, tôm dễ nhiễm bệnh.

* Kẽm (Zn)

Kẽm là thành phần dinh dưỡng thiết yếu cần cho quá trình trao đổi chất bao gồm tăng trưởng, phát triển và miễn dịch không đặc hiệu của tôm, là thành phần cấu tạo enzyme Carbonicanhydrase (xúc tác phản ứng hydrat hoá) làm tăng khả năng vận chuyển CO2 và kích thích tiết HCl trong dạ dày. Khi thiếu Zn tôm giảm bắt mồi, giảm tăng tưởng, mòn phụ bộ, còi, và giảm sức sinh sản, giảm sức sống.

* Mangan (Mn):

Mn là một thành phần cần thiết của một số enzyme như pyruvate carboxylase, lipase hay là thành phần cấu thành enzyme trong chuyển hóa protein, lipid và carbohydrate. Sự hấp thu Mn từ môi trường nước rất thấp. Sự thiếu hụt Mn làm giảm bắt mồi, giảm tăng trưởng, còi cọc, thân ngắn, đuôi bất thường, dễ bị dị hình, tăng tỷ lệ chết.

* Selenium (Se):

Se là khoáng chất cần thiết cho tôm. Trong cơ thể Se và vitamin E tham gia vào quá trình trao đổi lipid. Se có chức năng chống lại quá trình tự ôxy hóa của lipid màng tế bào, là thành phần chính trong cấu thành enzyme glutathione peroxidase (GSH). Sự hấp thu Se từ môi trường nước rất thấp nên cần được cung cấp từ thức ăn, đặc biệt là thức ăn có hàm lượng lipid cao nhằm hạn chế quá trình ôxy hóa lipid trong thức ăn. Sự thiếu hụt Se làm giảm glutathione, tăng stress, giảm tăng trưởng, tăng tỷ lệ chết.

* Coban (Co): Vì tôm không thể tự sản xuất vitamin B12 nên trong khẩu phần ăn cần bổ sung Co làm chất dinh dưỡng cần thiết cho các vi sinh vật hỗ trợ tổng hợp vitamin B12 cho tôm nuôi.

* Sắt (Fe):

Sắt là thành phần dinh dưỡng thiết yếu cần cho chứ năng của tất cả các cơ quan và mô trong cơ thể.

Nhìn chung nhóm khoáng vi lượng cần với lượng rất ít tuy nhiên lại có vai trò quan trọng trong cấu tạo các nhóm chức của enzyme, hormone, điều hoà quá trình sinh tổng hợp protein,… ảnh hưởng một cách rõ rệt đến các quá trình trao đổi chất, đặc biệt trong môi trường nuôi thâm canh, sự thay đổi môi trường, chất lượng nước cùng với các thực hành nuôi dẫn đến stress và có ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý của cơ thể, làm thay đổi nhu cầu về khoáng vi lượng rất hữu ích cho việc giảm stress và tăng khả năng đề kháng bệnh của tôm nuôi. Tuy nhiên khi hàm lượng khoáng vi lượng có khả năng gây độc hại như đồng, chì, cadmium, thủy ngân, asen, flo, selen, và vanadi cao cũng gây nguy hại cho sứ khỏe tôm nuôi như: giảm tăng trưởng, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, dị hình, tăng tỷ lệ chết,….

Bảng: Nhu cầu khoáng trong khẩu phần thức ăn của tôm (Cục Thủy Sản)

Nhóm khoáng đa lượng Nhu cầu của tôm (g/100g thức ăn)
Như <3.0
P 2,0
Ca / P
K 1,1
Na / Cl
Trong
Mg <0.3
Nhóm khoáng vi lượng Nhu cầu của tôm (mg/kg thức ăn)
Với 32
Đức tin <100
Zn 120
Mn 60
0,3
Tôi 6
Những gì 1
Cr 1

NHU CẦU KHOÁNG CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

Nhu cầu khoáng của tôm thay đổi tùy theo dạng khoáng và độ hữu dụng sinh học của khoáng. Khoáng hòa tan thường được hấp thụ cao nhất ở dạng các ion hòa tan, những hợp chất khác trao đổi điện tử với khoáng hình thành nên các hợp chất bền, ít tan sẽ khó được hấp thụ.

Tôm thẻ là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh do tôm lột xác liên tục lại được nuôi theo mô hình thâm canh mật độ cao cho nên nhu cầu khoáng chất cũng rất cao. Nếu trong ao có độ mặn thấp, hàm lượng Ca, Mg, P, Na… trong nước thấp, tôm hấp thụ khoáng không đủ đặc biệt trong quá trình sinh trưởng, tôm thẻ cần rất nhiều khoáng, do đó trong ao nuôi tôm thẻ nên luôn duy trì độ kiềm từ 100 mg/l trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3. Bên cạnh đó, phải thường xuyên tạt khoáng cho ao nuôi để tôm cứng vỏ dễ lột xác, giúp tôm tăng trưởng nhanh, hạn chế hiện tượng đục cơ và cong thân, mềm vỏ.

Nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao cần chú ý gì?

tom-the-chan-trang

tom-the-chan-trang

tôm-thẻ-chân-trắng

tôm-thẻ-chân-trắng

Chuẩn bị cho vụ nuôi đầu tiên của năm mới, một chủ đề đang được các nhà đầu tư và hộ nuôi tôm quy mô nhỏ quan tâm thảo luận trong thời gian vừa qua đó là sự chuyển dịch từ nuôi tôm sú qua nuôi tôm thẻ chân trắng và hiệu quả của việc chuyển đổi này.

Giống như khi nuôi tôm sú, nuôi tôm thẻ chân trắng cũng không phải là một ngoại lệ. Sau những thành công bước đầu, tay nghề được nâng lên, người nuôi thường có xu hướng tăng dần mật độ nuôi từ 100 con / m2 lên 150-200 con / m2. Trong năm vừa qua có những ông chủ đã thử nuôi mật độ 400 – 500 con / m2 (Hoành Bồ, Quảng Ninh).
bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi-hdpe

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi-hdpe

bat-hdpe-lot-ho-tom-gia-tot-nhat-ha-noi

bạt-hdpe-lót-hồ-tôm-giá-tốt-nhất-hà-nội

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi

Hệ thống ao hồ sử dụng màng chống thấm hdpe, trang thiết bị hoàn chỉnh, con giống sạch bệnh, công nghệ nuôi tiên tiến cùng với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm trong và ngoài nước phần nào làm yên tâm các nhà đầu tư lớn khi họ nuôi trên hệ thống ao có lót màng chống thấm hdpe, có ao trữ, ao lắng, hệ thống quạt nước, sục khí đáy và kiểm tra, theo dõi hàng ngày các thông số môi trường chất lượng nước.

Trong khi đó những người nuôi quy mô nhỏ, tập trung dạng nuôi quảng canh cải tiến, bán công nghiệp sau khi đầu tư thêm một số thiết bị và cải tạo lại ao hồ lên nuôi mật độ cao, tuy nhiên do ao liền ao, bờ liền bờ giữa các hộ nuôi với nhau thì việc nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ từ 100 con/m2 trở lên sẽ gặp trở ngại như: tôm chậm lớn, kích cỡ không đồng đều đến khi thu hoạch, dịch bệnh dễ xảy ra…Với các ao hồ màng hdpe được đầu tư tốt, khu nuôi riêng biệt, sau mỗi vụ nuôi ngoài việc cải tạo tốt ao nuôi còn phải sên vét đường cấp nước và đường xả thoát nước.

Một điều tưởng chừng như bình thường nhưng rất quan trọng và không thể thiếu trong quá trình nuôi tôm thẻ chân trắng là luôn làm sạch đáy ao màng chống thấm hdpe. Khi nuôi tôm sú, người nuôi có thể xi phông đáy theo định kỳ. Nhưng khi nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao, mỗi tuần (thậm chí mỗi ngày khi tôm lớn) người nuôi phải xả cặn bã đáy ao tại các vị trí thu gom hoặc bơm hút cặn sang các ao trữ để xử lý.
Hệ thống ao nuôi là yếu tố rất quan trọng quyết định sự thành bại khi nâng mật độ nuôi cao. Việc nâng cấp ao hồ từ nuôi tôm sú qua nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao cũng cần phải chú trọng về độ sâu của mực nước ao nuôi màng hdpe Đây cũng được xem như là ưu tiên số một khi cải tạo ao hồ. Đối với các ao nuôi trải bạt toàn bộ đáy ao màng chống thấm hdpe, độ sâu mực nước thích hợp cho nuôi mật độ cao là 1,5-2m.Ngược lại, với các ao nổi màng hdpe, vùng thấp triều thường có độ sâu mực nước thấp hơn (0,8-1,2m) sẽ là thách thức không nhỏ khi nuôi mật độ trên 100 con/m2.
Nhiều người nuôi đã đầu tư những hệ thống ao hồ thực sự bài bản như: làm lưới nhà lầu tạo điều kiện cho tôm đeo bám, hệ thống oxy đáy, hệ thống quạt, phủ lưới che chim cò toàn bộ ao nuôi.
Việc theo dõi nhiệt độ, pH, độ kiềm, độc tố…cũng được người nuôi chú trọng.
Nhắm đến kết quả là tỉ lệ sống cao, kích cỡ tôm đồng đều, ít bệnh, thời gian thu hoạch ngắn, năng suất cao khi nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao từ 150-200 con/m2 trên hệ thống ao nuôi màng hdpe tôm sú trước đây, Việt Linh khuyến nghị một số vấn đề kỹ thuật như sau:
– Ao nuôi nên trải bạt toàn bộ hoặc phủ bạt bờ ao màng chống thấm hdpe
– Bảo đảm mực nước ao nuôi từ 1,5-2m.
– Khu vực nuôi có nguồn nước dồi dào
– Có ao trữ, ao lắng và hệ thống cấp thoát nước đáp ứng yêu cầu xả mùn bã đáy ao (xi phông đáy) mỗi ngày.
– Có hệ thống oxy đáy; hệ thống quạt nước tạo được các khu vực gom mùn bã đáy ao. Bảo đảm từ tháng thứ 2, thời gian quạt nước 24g/24g.
– Nếu không thỏa mãn các yêu cầu trên, nên nuôi dạng bán công nghiệp <100 con/m2 sẽ hiệu quả hơn.
– Về con giống: Chỉ nuôi mật độ cao khi chọn được con giống sạch bệnh.
– Trong quá trình nuôi, các biểu hiện của ao nuôi màng hdpe không dễ nhận biết nên đòi hỏi người nuôi phải bám sát để phát hiện và xử lý kịp thời.

Nuôi tôm thẻ chân trắng trải bạt HDPE làm nền đáy

1. Chuẩn bị ao

Ao được đầm nén kỹ bờ, trước khi lót bạt cần làm phẳng đáy ao, nền đáy nghiêng về cống thoát nước, đáy ao cần được phơi khô. Dùng màng chống thấm (HDPE) hoặc bạt HDPE (bạt HDPE lót hồ tôm) các tấm được dán kín mép lại với nhau, trải lên toàn bộ nền đáy và bờ ao. Khi trải bạt HDPE lót hồ tôm phải vuốt bạt áp sát nền đáy, cần lắp 3 – 4 ống thoát khí nối từ dưới nền đáy lên trên bờ, tránh hiện tượng khí tích tụ phía dưới, đẩy bạt phồng lên khi đưa nước vào ao nuôi. Nếu đã trải bạt bạt HDPE lót hồ tôm  từ vụ trước thì tháo róc nước, dùng máy bơm cao áp xịt rửa sạch các chất bám bẩn trên mặt bạt, sau đó dùng nước Chlorine 5% té đều lên mặt bạt, phơi bạt sau 5 ngày mới lấy nước vào ao.

bat-hdpe-lot-ho-tom-gia-tot-nhat-ha-noi

bạt-hdpe-lót-hồ-tôm-giá-tốt-nhất-hà-nội

 

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi-hdpe

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi-hdpe

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi

2. Cấp nước, thả giống

Cấp nước: Nước được lấy vào ao lắng khử trùng bằng Chlorine liều lượng 30 ppm (30 kg/1.000 m3 nước) sau 10 ngày mới lấy nước vào ao qua túi lọc, độ sâu nước ao 1,4 m trở lên. Tránh lấy nước vào ao lắng khi:

+ Có thông tin vùng dịch bệnh thải nước ra vùng nuôi

+ Nước thủy triều có hiện tượng phát sáng ban đêm

+ Nước có nhiều váng bọt, nhiều huyền phù lơ lửng+ Không lấy nước khi thủy triều đang lên

+ Kiểm tra độ mặn trước khi lấy nước.

Lắp đặt quạt khí: Hệ thống quạt nước có công dụng chính là tăng hàm lượng ôxy hòa tan trong nước, tạo dòng chảy kích thích tôm bắt mồi, đồng nhất chất lượng nước tại mọi điểm trong ao, gom chất thải vào giữa ao, thuận tiện cho việc xiphong đáy. Số lượng quạt khí, tùy theo diện tích nuôi mà bố trí dàn quạt khí nhiều hay ít, thông thường với dàn quạt 15 – 17 cánh thì nên lắp 2 dàn, đảo chiều nhau, đảm bảo khi vận hành tạo dòng nước chảy theo một chiều. Ao nuôi nên có diện tích 2.000 – 3.000 m2, hình chữ nhật (dài gấp 1,5 lần rộng), nếu ao hình vuông nên lắp 3 dàn. Với diện tích nuôi 3.000 – 5.000 m2, cần lắp 4 – 6 dàn quạt.

Tôm giống: Chọn những nhà cung cấp có uy tín. Tôm khi chuyển về phải được kiểm dịch và điều chỉnh độ mặn, pH giữa túi đựng tôm và ao nuôi, thả tôm lúc mát trời, cần cân bằng nhiệt độ trong ao và túi, tránh tôm bị sốc nhiệt, mật độ thả nuôi 120 – 150 con/m2.

3. Chăm sóc, quản lý

Thức ăn: Chọn thức ăn cho tôm được sản xuất bởi các hãng lớn. Thức ăn phải cho ăn đúng khẩu phần, hàm lượng đạm phải phù hợp từng giai đoạn phát triển của tôm, luôn kiểm soát lượng thức ăn để điều chỉnh tránh thừa hoặc thiếu. Không nên cho tôm ăn khi trời mưa vì có sự thay đổi nhiệt độ và độ mặn. Trong suốt giai đoạn tôm lột xác, nên giảm lượng thức ăn và bổ sung thêm khoáng. Định kỳ bắt tôm để quan sát: Nếu ruột tôm màu đen sẫm đó là biểu hiện thức ăn bị thiếu, tôm phải ăn thức ăn tự nhiên trong ao, do vậy cần tăng thêm lượng thức ăn cho tôm còn ruột tôm có màu nâu là thức ăn đầy đủ. Dùng sàng ăn để kiểm tra mức độ ăn của tôm để điều chỉnh thức ăn cho kịp thời.

Duy trì độ sâu nước ao trải bạt HDPE lót hồ tôm để ổn định nhiệt độ: Sau khi thả tôm 10 ngày nên sử dụng chế phẩm sinh học làm sạch nước ao trải bạt HDPE lót hồ tôm  định kỳ 10 ngày/lần. Sau 1 tháng nuôi, tiến hành xiphong đáy định kỳ 4 ngày/lần; khi xiphong đáy phải nhẹ nhàng, điều chỉnh van vừa phải, tránh tôm bị hút ra theo ống xiphong.

Kiểm soát các yếu tố môi trường: Thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường trong ao nuôi trải bạt HDPE lót hồ tôm  (như pH, độ kiềm, ôxy, độ mặn) để có biện pháp khắc phục kịp thời khi có sự cố môi trường, nên duy trì các yếu tố môi trường ở ngưỡng thích hợp cho tôm, pH: 7,5 – 8,5; độ kiềm: 80 – 120 mg/l, ôxy hòa tan: 4 mg/l trở lên, độ mặn 15 – 25‰. Nếu pH thấp, độ kiềm nhỏ hơn 70: tạt vôi CaCO3 kết hợp Dolomite vào ban đêm. Độ kiềm cao hơn 230: nên thay bớt nước, lấy nước đã qua xử lý từ ao lắng. Nếu pH cao 8,8 – 9 kéo dài, nên thay bớt 20% lượng nước trong ao. Duy trì độ trong 35 – 40 cm. Màu nước duy trì ở màu xanh nõn chuối hoặc màu mận. Trong tháng đầu thả tôm chỉ quạt khí về đêm, sang tháng nuôi thứ 2 trở đi cần vận hành quạt khí 24/24, nên sắm máy phát điện dự phòng khi mất điện. Cùng đó, cần bổ sung chế phẩm sinh học vào ao nuôi định kỳ 10 ngày/lần, nhằm cân bằng hệ vi sinh vật trong ao, phân hủy lượng chất thải, giải phóng khí độc, ổn định môi trường trong ao nuôi. Trộn chế phẩm sinh học vào thức ăn cho tôm, kích thích tiêu hóa giúp tôm lớn nhanh.

Phòng bệnh tôm: Trong quá trình nuôi nên áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp, quản lý tốt các yếu tố môi trường. Ngăn chặn các loại cua cáy có thể mang mầm bệnh xâm nhập vùng nuôi; vệ sinh, khử trùng dụng cụ, bảo hộ lao động trước khi vào khu vực nuôi trải bạt HDPE lót hồ tôm. Ngoài ra bạn cần biết Nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao cần chú ý gì?

Đánh giá chất lượng giống tôm sú – Phương pháp kiểm tra đánh giá chất lượng tôm giống

1. Giới thiệu  

Hiện nay công nghiệp nuôi tôm sú đang được phát triển một cách nhanh chóng và trở thành mũi nhọn kinh tế cho các vùng Duyên Hải. Là đối tượng mà nước ta cũng như các nước khác trên thế giới quan tâm. Tuy nhiên công việc này đã trãi qua những khủng hoảng nghiêm trọng. Đài Loan 1987 là một ví dụ điển hình, Trung Quốc năm 1994 sản lượng tôm chỉ đạt 20% so với trước. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy rằng giống co chất lượng kém là một trong những nguyên nhân đầu tiên gây ra những thiệt hại nghiêm trọng. Vì vậy việc kiểm soát được chất lượng giống sẽ góp phần phát triển được công nghiệp nuôi tôm lâu dài và bền vững.

2. Mục đích:  

– Giúp cho sản xuất giống biết được chất lượng của đàn tôm mà mình sản xuất là tốt hay xấu. Từ đó có thể đánh giá được kết quả của các biện pháp kỹ thuật mà mình đang áp dụng để không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất và cải tiến chất lượng giống tốt hơn.

– Giúp cho người tiêu thụ giống biết được chất lượng của đàn tôm mà mình định mua nhằm tránh được rủi ro đồng thời giúp cho người nuôi tôm ổn định hơn.

3. Ý nghĩa:  

Có được phương pháp kiểm tra. Đánh giá chất lượng giống tốt là một việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn sản xuất. Bởi vì chất lượng giống có ảnh hưởng rất lớn đến công nghiệp nuôi tôm trên toàn thế giới. Bản thân người sản xuất cũng như người tiêu thụ giống phải ý thức được tầm quan trọng của chất lượng giống tốt như thế nào mới thúc đẩy được nhiều giải pháp kỹ thậut để cải tiến quy trình mang lại ý nghĩa thiết thực cho nghề nuôi tôm hiện nay và cho tương lai.

4. Một số phương pháp kiểm tra, đánh giá chất lượng tôm giống.  

Có rất nhiều phương pháp để kiểm tra chất lượng tôm giống nhưng trong phạm vi áp dụng sản xuất đại trà với khả năng, yêu cầu về trang thiết bị còn hạn chế rất nhiều. Do đó trong nội dung này chúng tôi chỉ đưa ra một số phương pháp đơn giản, dễ áp dụng, ít tốn kém mà vẫn có thể kiểm tra. Đánh giá được tôm giống một cách tương đối chính xác.

4.1 Phương pháp trực quan bằng mắt thường: 

– Chiều dài ≥ 11mm (từ mũi chủy đến chót đuôi), tôm có cỡ đồng đều, độ lệch không quá 15%.

– Ngoại hình: Hình thái cấu tạo ngoài hoàn chỉnh, chủy, râu thẳng, đuôi xòe.

– Màu sắc:Xám sáng, vỏ bóng mượt.

– Trạng thái hoạt động: Phản ứng nhanh nhẹn khi có tác động đột ngột.

– Tính ăn: Bắt mồi đều đặn, ruột đầy.

4.2. Phương pháp trực quan trên kính hiển vi:  

Đặt tôm trong đĩa petri hoặc trên lame có chứa 1 giọt nước biển.

Quan sát mẫu vật trên kính hiển vi có độ phóng đại 100X hoặc 150X.

Quan sát các phụ bộ, như chủy, râu A1, A2, chân ngực, chân bụng, chân đuôi, đốt đuôi.

* Kết quả xem hình Xa, Xb, Xc (X = 1 đến 14) – Những hình Xa tôm bình thường.

– Những hình Xb, Xc là các phụ bộ không tốt, có dấu hiệu tổn thương.

– Quan sát các loài nguyên sinh động vật sống ký sinh.

– Kiểm tra vùng xung quanh mắt, mang, chân ngực, chân bụng tìm ra những loài nguyên sinh động vật sống ký sinh.

– Quan sát bề mặt của vỏ tìm kiếm các tổn thương trên vỏ.

4.3. Phương pháp tính tỷ lệ cơ/ ruột:  

Tính tỷ lệ cơ / ruột nhằm biết được khả năng tăng trưởng của tôm có tốt hay không. Lấy mẫu tôm quan sát trên kính hiển vi.

– Quan sát tổng số răng/ chủy (có từ 4-6 răng là được) tương đương với Postlarvae từ 14 – 20 ngày tuổi.

– Quan sát đường kính ruột và đường kính cơ của đốt bụng thứ 6

– Tính tỷ lệ cơ ruột = b/a.

* Kết quả:

Tỉ lệ b/a tương đương 4/1 là tốt (tôm khỏe mạnh tăng trưởng nhanh)

Tỉ lệ b/a < 3/1 là tôm kém phát triển (cơ phát triển kém)

4.4. Phương pháp thử gây sốc  

Đây là thử nghiệm cho tôm bị sốc bằng cách hạ độ mặn đột ngột hoặc lưu trong dung dịch có chứa Formalin nhất định để kiểm tra khả năng chịu đựng của tôm giống.

– Phương pháp thử gây sốc bằng cách hạ độ mặn đột ngột 15 ‰ . Lấy khoảng 20 mẫu tôm cần kiểm tra cho vào cốc thủy tinh 300ml. tính toán lượng nước ngọt cần cho vào, bắt đầu tín hành hạ đột ngột độ mặn 15 ‰ theo dõi trong 2h nếu tỷ lệ sống 100% là đạt yêu cầu.

– Phương pháp thử gây sốc bằng Formalin 100ppm. Tương tự như trên lấy 20 mẫu tôm cần kiểm tra cho vào cốc thủy tinh 300ml. Tính toán lượng Formalin cần cho vào bắt đầu tiến hành theo dõi tôm trong dung dịch có nồng độ Formalin trong 2h nếu tỷ lệ sống 100% là đạt yêu cầu.