Nam Định: Ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Với khả năng chống chịu bệnh cao, kỹ thuật nuôi đơn giản, thời gian nuôi ngắn, lại cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao nên những năm qua, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn tỉnh Nam Định liên tục tăng, hiện đạt 486 ha ở ba huyện ven biển Hải Hậu, Giao Thủy và Nghĩa Hưng. Nhiều hộ nuôi đạt năng suất 10 tấn/ha, có hộ đạt 14 – 15 tấn/ha, cho thu lãi từ 350 triệu đồng đến 1,2 tỷ đồng/ha. Tuy nhiên, quá trình nuôi độc canh và nuôi tăng vụ tôm thẻ chân trắng trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp đã bộc lộ nhiều hạn chế như tôm tăng trưởng kém, dễ nhiễm bệnh, chết hàng loạt gây thiệt hại lớn cho người nuôi. Do đó việc tích cực đưa tiến bộ kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới vào quá trình nuôi tôm thẻ chân trắng để kiểm soát dịch bệnh, cải thiện môi trường nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế cao đang được các ngành chức năng hướng dẫn các hộ nuôi đầu tư.

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi-hdpe

bat-lot-ho-tom-gia-re-ha-noi-hdpe

bat-hdpe-lot-ho-tom-gia-re-tai-ha-noi

Cán bộ Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (Sở NN và PTNT) hướng dẫn các hộ nuôi tôm xã Giao Phong (Giao Thủy) áp dụng tiêu chuẩn thực hành nuôi tốt, an toàn dịch bệnh (GAP/CoC).

Những năm qua đã có nhiều công nghệ mới được ứng dụng trong nuôi tôm thẻ chân trắng mang lại hiệu quả kinh tế cao như: Sử dụng chế phẩm sinh học thay thế thuốc kháng sinh và phòng trừ một số bệnh thường gặp trong quá trình nuôi, sử dụng máy ozone xử lý môi trường nước; công nghệ nano… Trong đó, phương pháp nuôi tôm thẻ chân trắng tầng mặt qua đông theo quy trình GAP đã được áp dụng thành công tại xã Giao Phong (Giao Thủy) và đang được nhân rộng tại các trang trại nuôi ở các huyện Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Quy trình kỹ thuật nuôi tôm tầng mặt có nhiều điểm khác biệt so với cách nuôi trước đây: Phần đáy ao nuôi được đổ cát dày từ 0,5 – 1m thay vì 0,15 – 0,3m như cũ; lắp mái che mặt ao để kiểm soát nhiệt độ ổn định, giúp tôm tăng trưởng trong điều kiện nhiệt độ ngoài trời thay đổi; vệ sinh đáy ao theo phương pháp rút nước, cày lật và đánh đống, phơi đáy đến khi khô kiệt sau đó xử lý hóa chất, bơm cát mới và dùng chế phẩm sinh học để tiêu diệt mầm bệnh còn lại trước khi gây màu nước và xuống giống. Ưu điểm của phương pháp này giúp phần đáy ao thoáng khí, thúc đẩy nhanh quá trình oxy hóa loại bỏ khí độc và mầm bệnh do tích tụ nhiều tạp chất từ vụ nuôi trước và ổn định nhiệt độ, tránh cho tôm bị “sốc” do thay đổi thời tiết. Từ phương pháp nuôi mới, một số hộ dân ở xã Giao Phong đã đổ cát đáy ao tối thiểu dày 0,5m, lót bạt HDPE (bạt lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE) kè bờ bằng bê tông và xây bờ cao hơn mặt đường 0,5m để hạn chế “địch hại” xâm nhập ao nuôi bạt HDPE (bạt lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE), làm mái che kết hợp bố trí hợp lý điểm thoát nước mưa ở bờ, thoát nước mặt ở ao để ổn định nhiệt độ và ngăn nước mưa chảy xuống ao nuôi. Ngoài ra, kỹ thuật này còn giúp khâu thu hoạch nhanh, rút ngắn thời gian lưu bãi và vận chuyển khi đưa ra thị trường. Tại đầm nuôi lót bạt HDPE (bạt lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE) của gia đình ông Trần Thành Công, đội 1, xã Giao Phong đã áp dụng kỹ thuật nuôi tôm tầng mặt đã cho thu nhập gần 600 triệu đồng/ha, cao hơn 400 triệu đồng so với cách nuôi thông thường. Tại đầm nuôi của gia đình các ông: Trần Văn Tẩy, Cao Văn Tranh, Cao Văn Ba, Cao Văn Đề, Nguyễn Văn Quyết, Nguyễn Văn Đan… và nhiều hộ khác đều cho kết quả cao khi áp dụng quy trình mới. Ngay trong vụ nuôi xuân hè 2013, nhiều đầm nuôi lót bạt HDPE (bạt lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE) , tôm chết hàng loạt do mắc bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy nhưng những ao nuôi theo phương pháp mới tôm vẫn phát triển ổn định, năng suất đạt 10 tấn/ha. Đồng chí Trần Ngọc Hải Bình, tác giả của giải pháp công nghệ nuôi tôm tầng mặt qua đông theo quy trình GAP cho biết: Dựa trên nguyên lý, quy trình nuôi và đặc tính của tôm thẻ chân trắng, phương pháp nuôi tôm tầng mặt đã khắc phục được 2 điểm yếu trong nuôi tôm thâm canh của tỉnh ta là: môi trường nuôi bị ô nhiễm, đặc biệt đáy ao nuôi lót bạt HDPE (bạt lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE) còn tồn dư nhiều tạp chất và không có biện pháp xử lý triệt để, dễ dẫn đến tôm bị nhiễm bệnh, chết hàng loạt và phương pháp dùng bạt ni-lon ổn định nhiệt độ chống lạnh cho tôm đã tạo hiệu quả cao, giúp người nuôi chủ động trong sản xuất tôm vụ đông. Cùng với áp dụng công nghệ nuôi tôm tầng mặt, Trung tâm Giống hải sản (Sở NN và PTNT) nhân ra diện rộng công nghệ nuôi tôm theo phương pháp chuyển giai đoạn. Theo đó, giải pháp chuyển giai đoạn được thực hiện theo quy trình: thả giống ở cả 3 ao, chế độ quản lý, chăm sóc, sử dụng chế phẩm trong thời gian đầu với tỷ lệ như nhau. Sau 45 ngày tiến hành thu tôm ở ao số 2, số 3 khi đạt trọng lượng 2,5g/con (400 con/kg) để tranh thủ thời điểm giá tôm vụ sớm cao. Sau đó, tiến hành cải tạo ao số 2, số 3 và chọn thời điểm tôm ở ao 1 chuẩn bị lột xác để chuyển sang các ao số 2, 3 đã cải tạo để nuôi giai đoạn 2 (tôm nuôi giai đoạn 1 khoảng 50 – 55 ngày); tỷ lệ tôm sống đạt 80%, trọng lượng trung bình của tôm to hơn, đạt 25g/con, năng suất đạt 6,2 tấn/ha, cao hơn so với quy trình nuôi khép kín 1,2 tấn/ha. Phương pháp này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao, bảo đảm môi trường nuôi bền vững, không gây ô nhiễm đáy ao, rút ngắn thời gian nuôi, tăng hiệu quả sử dụng mặt nước trong nuôi thủy sản và hạn chế thấp nhất rủi ro trong quá trình thâm canh, mà còn giải quyết được vấn đề thị trường khi không thu hoạch tôm ồ ạt, đồng loạt, dễ mất giá. Hiện nay, Trung tâm đang thử nghiệm phương pháp nuôi tôm không cho ăn trong thời gian một tháng đầu (tôm ăn thức ăn tự nhiên trong môi trường nước) và mô hình diệt khuẩn ao nuôi lót bạt HDPE (bạt lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE)  bằng công nghệ sinh học; sử dụng công nghệ nano kháng khuẩn trong nuôi tôm công nghiệp để chuyển giao cho các hộ nuôi ứng dụng vào thực tế sản xuất.

Để khuyến khích và tạo điều kiện cho các hộ nuôi áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng, ngoài việc quy hoạch ổn định vùng nuôi và đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu cơ bản để phát triển nghề nuôi tôm, Sở NN và PTNT đã chỉ đạo Phòng Nuôi trồng thủy sản, Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, Phòng NN và PTNT các huyện ven biển Hải Hậu, Giao Thủy và Nghĩa Hưng hỗ trợ hộ nuôi nhân rộng vùng nuôi áp dụng tiêu chuẩn thực hành nuôi tốt, an toàn dịch bệnh (GAP/CoC) để tạo vùng nuôi thuỷ sản sạch, khối lượng hàng hoá lớn, an toàn, thân thiện với môi trường. Đây là điều kiện quan trọng trong việc thu hút các cơ quan chuyên ngành đầu tư kinh phí, chuyển giao công nghệ mới phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng quy mô lớn trên địa bàn tỉnh.

Nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao tròn

Chuẩn bị ao

Trước khi thả nuôi tôm 10 ngày, tiến hành gây màu nước cho ao nuôi lót bạt HDPE (bạt lót hồ tôm)

Phương pháp thứ nhất, sử dụng 2 kg cám gạo hoặc cám ngô, 1 kg bột cá, 2 kg bột đậu nành.

Trộn đều hỗn hợp trên, sau đó nấu chín, ủ kín trong 2 – 3 ngày, rồi bón để gây màu, liều lượng 3 – 4 kg/1.000 m3, bón liên tục trong 3 ngày, 7 ngày sau tiếp tục bón bổ sung với liều lượng bằng ½ so với ban đầu.

Phương pháp thứ 2, phối trộn theo tỷ lệ 3 kg mật đường, 1 kg cám gạo hoặc cám ngô, 3 kg bột đậu nành, trộn đều, ủ trong 12 giờ.

Dùng cám ủ để bón lên màu, liều lượng 2 – 3 kg/1.000 m3 nước, liên tục trong 3 ngày, 7 ngày sau bón bổ sung với liều lượng bằng ½ liều lượng so ban đầu.

Thả tôm giống cỡ P15, tôm có màu sắc tươi sáng, đều cỡ, khỏe mạnh, đã qua kiểm dịch.

Thả tôm giống vào thời điểm trời mát.

Do có chiều sâu lớn, môi trường nuôi được quản lý chặt chẽ, nên có thể nuôi với mật độ cao, vào chính vụ có thể nuôi với mật độ 200 – 300 con/m2, vụ nghịch có thể nuôi với mật độ 120 – 150 con/m2.

Quản lý ao lót bạt HDPE lót hồ tôm

Thường xuyên thay nước ao nuôi bạt HDPE lót hồ tôm , phụ thuộc vào tình trạng thực tế và từng thời kỳ trong vụ nuôi.

Hàng ngày, rút lượng chất thải trong ao lót bạt HDPE (bạt lót hồ tôm) thông qua hệ thống ống PVC dưới đáy.

Thời kỳ đầu vụ nuôi cấp bù lượng nước thải ra, thời kỳ giữa thay nước tùy theo chất lượng nước, thời kỳ cuối mỗi ngày thay nước khoảng 30 cm/ngày, chất lượng nước kém nên thay trên 50 cm/ngày.

Trang bị đầy đủ máy quạt nước và bố trí máy ôxy đáy.

Duy trì quạt nước trong 24/24 giờ, máy ôxy đáy có thể dùng cả ngày hoặc chỉ dùng ban đêm, tùy theo tình trạng ao bạt HDPE lót hồ tôm và sức khỏe tôm nuôi, nhưng luôn đảm bảo hàm lượng ôxy hòa tan duy trì ở mức trên 4 mg/lít.

Sử dụng thức ăn công nghiệp có chất lượng cao, hàm lượng đạm 32 – 38%, kích cỡ thức ăn theo đúng độ tuổi của tôm.

Cho ăn ngày 4 lần vào sáng, trưa, chiều tối.

Với ao nuôi lót bạt HDPE (bạt lót hồ tôm) tròn nhỏ, rất phù hợp cho việc sử dụng máy cho tôm ăn tự động.

Trong quá trình nuôi định kỳ bổ sung khoáng chất vào môi trường nước và Vitamin C, thuốc bổ gan vào thức ăn.

Khi nhiệt độ cao hơn 340C và thấp hơn 240C, giảm 20% lượng thức ăn.

Thời gian nuôi từ 80 đến 120 ngày, tôm thu có kích thước 40 – 70 con/kg.

Hiện mô hình nuôi tôm ao tròn bạt HDPE lót hồ tôm, nhỏ có xử lý chất thải đáy được trang trại nuôi tôm Tân Nam, Sóc Trăng (Công ty Thực phẩm Sao Ta) đưa vào áp dụng, cho tỷ lệ thành công và hiệu quả kinh tế cao.

Tỷ lệ thành công lên đến 85% và hiệu quả sản xuất mỗi vụ tăng trên 10% so với các công nghệ nuôi thông thường.

Tham khảo Nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao tròn

Giảm hiệu quả chi phí trong nuôi tôm – Phần 1

Quản lý sàng ăn hiệu quả

Giảm hiệu quả chi phí trong nuôi tôm - Phần 1

Giảm hiệu quả chi phí trong nuôi tôm - Phần 1 2

Trước đây, nông dân nuôi tôm ở Australia cho rằng thường xuyên chia cữ ăn của tôm thành các bữa nhỏ trong ngày là cách thức hiệu quả giúp tối đa hóa hệ số chuyển đổi thức ăn (FCRs) trong ao nuôi lót Màng chống thấm hdpe

Thông thường, các hộ đều cho tôm ăn 5 cữ/ngày sau khi tôm được thả vào ao khoảng 1 tháng.

Tuy nhiên, Công ty nuôi tôm sú lớn nhất Australia – Gold Coast Marine là đơn vị tiên phong nuôi tôm theo cách “phi truyền thống” là cho ăn 4 lần/ngày.

Theo lý giải của các kỹ sư Bambang M.Julianto và Darrel Herbst tại Công ty, phương pháp trên sẽ cung cấp thêm thời gian nghỉ ngơi cho tôm giữa các cữ ăn, từ đó hạ thấp dần hệ số FCRs.

Trong khi đó, các nhân viên tại trại nuôi cũng có nhiều thời gian để kiểm tra và quản lý sàng ăn chính xác hơn, từ đó làm giảm sai số trong khâu quản lý thức ăn.

Thực tế, chi phí nuôi tôm giai đoạn nuôi thương phẩm tại Australia luôn cao hơn các nước khác trên thế giới.

Chi phí thức ăn, nhân công, phí bảo trì và phí nhiên liệu dồn lại khiến tổng chi phí nuôi luôn ở mức cao.

Do đó, theo kinh nghiệm của Gold Coast Marine, quản lý thức ăn là giải pháp giảm hệ số chuyển đối thức ăn hiệu quả, từ đó tác động trực tiếp lên quá trình giảm chi phí nuôi tôm trong các ao thương phẩm.

Quản lý tốt thức ăn thay thế

Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCRs) được coi là thước đo sự hiệu quả của việc nuôi tôm trong quá trình chuyển đổi chỉ số thức ăn sang chỉ số tăng trọng lượng.

Cụ thể, chỉ số FCR với tôm sú tại Australia thường là 1.8.

Việc thường xuyên thay thế thức ăn được Công ty Gold Coast Marine áp dụng cách đây 7 năm, trong giai đoạn nuôi thương phẩm, phương pháp này giảm cữ ăn của tôm xuống còn 4 lần/ngày.

Kết quả, hệ số FCR đạt được như trong bảng:

Giam chi phí trong nuôi tôm

Dựa trên thông số sàng ăn, lượng thức ăn mà Gold Coast Marine áp dụng cho trại nuôi đa dạng suốt giai đoạn nuôi thương phẩm (biểu đồ minh họa).

Giam chi phí trong nuôi tôm

Tôm cần phải cho ăn thường xuyên bởi dạ dày nhỏ, tiêu hóa nhanh.

Tuy nhiên, tôm có thói quen ăn và nghỉ ngơi định kỳ trước khi quay lại kiếm thêm thức ăn.

Quản lý cho tôm ăn tại Gold Coast Marine gồm những bước sau:

*Ăn 4 lần/ngày, thời gian: 5h sáng, 11h trưa, 5h chiều và 11h tối.

Sử dụng máy thổi thức ăn để trải đều lượng thức ăn trên toàn ao nuôi lót Màng hdpe

*Mỗi ao trang bị 3 sàng ăn, được sử dụng cùng lúc với máy thổi thức ăn và được kiểm tra lại sau 3 giờ đồng hồ.

Lượng thức ăn cho mỗi sàng được chia theo tỷ lệ 0,5% trên tổng lượng thức ăn.

*Nếu trên sàng không còn sót thức ăn, cữ ăn tiếp theo tăng thêm 3 kg, giúp tăng trọng lượng trung bình của tôm lên 10 g.

Nếu muốn trọng lượng tôm đạt trên 10 g, cần tăng 5 kg thức ăn cho cữ tiếp theo.

*Nếu sàng còn thức ăn, giảm 20 – 80% lượng thức ăn cho cữ tiếp theo.

Trước đó, Gold Coast Marine chỉ giảm 10 – 30% lượng thức ăn khi kiểm tra thấy thức ăn trên sàng vẫn còn sót.

Theo kinh nghiệm của các kỹ sư tại Công ty, nếu tăng quá nhiều thức ăn sẽ dẫn đến hiện tượng tôm sú ăn thịt lẫn nhau, nhất là với ao nuôi lót Màng chống thấm hdpe mật độ cao.

Sự cần thiết của một số khoáng chất thiết yếu cho sự sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng

Hiện nay, nghề nuôi tôm sú truyền thống ở một số tỉnh ven biển đang gặp khó khăn do tình hình dịch bệnh bùng phát và chưa có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát. Một số hộ nuôi tôm đã chuyển sang nuôi đối tượng thủy sản mới đó là tôm thẻ chân trắng với diện tích thâm canh ngày càng tăng.

Tôm thẻ bị đục cơ cong thân
 Tôm thẻ bị cong thân, đục cơ  

Thẻ chân trắng có một số ưu điểm nổi bật như: có thể nuôi với mật độ khá cao 60 – 150 con/m2 hoặc cao hơn nữa; do đó sản lượng tôm thu được rất lớn, thời gian nuôi ngắn khoảng 3 tháng; nhưng chi phí đầu tư sản xuất cao, nhu cầu oxy của thẻ rất cao vì vậy phải đầu tư thiết bị đảm bảo cung cấp oxy đầy đủ. Tôm thẻ là đối tượng nuôi mới nên hộ nuôi còn hạn chế về kỹ thuật nuôi, dịch bệnh dễ xảy ra và có thể lây lan trên diện rộng, nuôi theo xu hướng tự phát không theo quy hoạch vùng nuôi,….Do tôm thẻ được nuôi với mật độ khá cao, có tốc độ tăng trưởng nhanh do tôm lột xác liên tục cho nên nhu cầu khoáng chất rất cao. Nếu trong ao có độ mặn thấp hàm lượng Ca, Mg, P, Na, … trong nước thấp tôm hấp thụ khoáng không đủ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng làm cho tôm chậm lớn, tôm lột khó cứng vỏ, gây ra hiện tượng đục cơ và cong thân thường thấy trong quá trình nuôi tôm thẻ.

Nguyên nhân tôm thẻ bị đục cơ và cong thân:

– Thiếu khoáng chất cần thiết: Ca, Mg, P, Co, Mn, Na…;
– Sốc nhiệt độ;
– Hàm lượng oxy trong ao thấp;
– Đục cơ do bệnh: do tôm nhiễm virus IMNV (Infectious Myonecrosis Virus).

Hiện tượng đục cơ, cong thân tôm thẻ thường xuất hiện từ lúc tôm 10 ngày tuổi cho đến trưởng thành. Do đó, cần phải xác định chính xác nguyên nhân tôm bị đục cơ, cong thân để có biện pháp phòng ngừa và điều trị phù hợp.

Đối với trường hợp tôm thẻ bị cong thân, đục cơ do thiếu khoáng: vào ban ngày khi nâng sàng ăn khỏi mặt nước ao nuôi một số con nhảy lên và búng mạnh, sau đó phần đuôi uống cong chạm đến phần giáp đầu ngực kèm theo hiện tượng mô cơ chạy dọc theo phần giữa cơ thể tôm trở nên trắng đục. Dùng tay kéo duỗi thân tôm ra nhưng vẫn bị cong và chết. Đó là hiện tượng đục cơ và cong thân do thiếu khoáng.

Cách khắc phục:

– Đảm bảo cung cấp đủ oxy cho tôm;
– Tránh để tôm bị sốc nhiệt độ;
– Khi đã xác định chính xác tôm bị đục cơ, cong thân do thiếu khoáng thì người nuôi cần phải bổ sung khoáng dạng bột với liều lượng 1 kg/1000 m3 nước sẽ khắc phục được hiện tượng này.

Biện pháp phòng ngừa:

– Hạn chế kiểm tra sàng ăn vào lúc trời nắng gắt;
– Máy quạt nước cung cấp đầy đủ oxy cho tôm;
– Bổ sung khoáng bột định kỳ: 5 – 7 ngày tạt 1kg/1000 m3 nước đối với tôm thẻ dưới 45 ngày tuổi; 3 ngày tạt 1 kg/1000 m3 nước đối với tôm thẻ trên 45 ngày tuổi. Đồng thời, kết hợp trộn khoáng nước vào thức ăn định kỳ: 5ml/1kg thức ăn (2 lần/ ngày).

Khoáng chất sử dụng cho động vật thủy sản thường có hai dạng:

– Khoáng nước: là hỗn hợp dung dịch các muối phosphate.
– Khoáng bột: thường là hỗn hợp các hợp chất oxit.

Khoáng chất cung cấp hàm lượng Ca, Mg cần thiết cho quá trình tăng trưởng và sự co cơ của động vật, ngoài ra Mg còn là chất xúc tác cho phản ứng phosphoryl hóa cung cấp năng lượng cho động vật thủy sản. Nếu trong nước thiếu hàm lượng Mg, tôm thẻ dễ bị đục cơ và cong thân, mềm vỏ, tình trạng này kéo dài ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và làm chết tôm.

Hiện tượng tôm thẻ mềm vỏ kéo dài, tôm khó lột xác ngoài các yếu tố môi trường nước, còn do thiếu hàm lượng Ca, Mg, P trong nước. Hàm lượng P trong nước rất ít; do đó phải bổ sung định kỳ nhằm hạn chế tình trạng tôm khó lột xác. Khi gặp hiện tượng này, người nuôi cần phải tạt khoáng bột xuống ao với liều lượng 1 kg/1000 m3, kết hợp trộn khoáng nước 10 ml/1 kg thức ăn (2 lần/ ngày) sẽ khắc phục hiện tượng trên.

Trong quá trình nuôi, tôm thẻ chân trắng khoảng 30 – 65 ngày tuổi là giai đoạn tăng trưởng mạnh nhất, nếu thấy tôm tăng trưởng chậm chứng tỏ hàm lượng Ca, Mg trong nước thiếu, không đáp ứng đủ nhu cầu hấp thụ của tôm, cần phải bổ sung khoáng nước bằng cách trộn vào thức ăn với liều lượng 5ml/1 kg thức ăn (2 lần/ ngày).

Tóm lại, trong suốt vụ nuôi tôm thẻ thì cần phải cung cấp khoáng chất đầy đủ nhằm hạn chế hiện tượng tôm thẻ bị đục cơ, cong thân, chậm lớn…

Phân biệt bệnh đục cơ và hoại tử cơ trên tôm thẻ chân trắng

Bệnh đục cơ và hoại tử cơ trên tôm thẻ khá giống nhau nếu quan sát bằng giác quan thì phần cơ thịt của tôm đều bị trắng đục. Chính vì vậy, hộ nuôi khó phân biệt để phòng ngừa và trị bệnh phù hợp.

Bệnh đục cơ: thường bắt đầu xuất hiện tôm thẻ 10 ngày tuổi cho đến trưởng thành, biểu hiện phần mô cơ chạy dọc theo cơ thể tôm trở nên trắng đục kèm theo hiện tượng cong thân. Bệnh này nếu không can thiệp kịp thời có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm thẻ. Bệnh này do thiếu một số khoáng chất thiết yếu trong nước dẫn đến đục cơ và cong thân.

Bệnh hoại tử cơ: Bệnh hoại tử cơ do Infectious myonecrosis virus (IMNV) gây ra.

Thường xuất hiện giai đoạn tôm thẻ trên 45 ngày tuổi, hiện tượng ban đầu phần cơ đuôi trở nên trắng đục sau đó lan dần khắp cơ thể. Ở mức độ nặng có thể dẫn đến hiện tượng hoại tử và đỏ ở phần cơ này, tôm chết và rớt đáy với tỷ lệ khá cao. Bệnh này hiện nay chưa có thuốc trị, chỉ phòng ngừa là chính.

Phân biệt bệnh đục cơ và hoại tử cơ trên tôm thẻ
Ảnh bên trái: Bệnh đục cơ làm phần cơ lưng tôm thẻ trắng đục do thiếu khoáng. Ảnh bên phải Đốt cơ bị trắng đục và hoại tử do (IMNV)
Biện pháp phòng ngừa:

– Bệnh đục cơ: tạt khoáng định kỳ.

– Bệnh hoại tử cơ: diệt khuẩn định kỳ và tránh gây biến động môi trường.

Ứng dụng công nghệ nano bạc diệt khuẩn – men vi sinh tái tạo môi trường trong nuôi tôm

I./ Đặc điểm, tính chất và cơ chế tác dụng của nano Bạc:

Nano bạc là chất được khai thác và phát triển bằng công nghệ tiên tiến hàng đầu mang nguyên lý kháng khuẩn, tiệt trùng siêu mạnh. Dưới tác dụng của các hạt nano bạc, tế bào của hơn 650 loại vi khuẩn bị phá hủy và tiêu diệt, ngoài ra Nano bạc còn có tính năng ngăn mùi hôi. Nano bạc có đặc tính kháng khuẩn và ngăn ngừa vi khuẩn phát sinh tới 99,99%, ích lợi hơn gấp nhiều lần so với các sản phẩm kháng khuẩn khác. Khi cho tiếp xúc với Nano bạc trong vòng 5 phút thì hầu hết những vi khuẩn sống đều bị tiêu diệt.

Nano bạc là những hạt bạc siêu nhỏ, kích thước được đo bằng Nano mét (1nm bằng phần triệu mm). Các hạt Nano bạc khi gặp các vi khuẩn, virus thì tương tác với lớp protein trên bề mặt vi khuẩn, virus rồi từ đó phá hủy màng tế bào, làm ức chế sự phát triển và tiêu diệt.

Công dụng khi sử dụng công nghệ Nano bạc:

Phòng và diệt nguồn bệnh trong ao nuôi, ổn định màu nước, khử mùi hôi tanh của nước, đặc biệt đối với những ao có chất thải hữu cơ từ phân gia súc và gia cầm, hạn chế cá ăn nổi và các bệnh như đốm đỏ, đốm trắng, bệnh nấm thủy my, nấm mang, nấm bào tử… Đặc biệt Nano bạc không phụ thuộc vào môi trường nước mặn hay ngọt, không bị phân hủy ở nhiệt độ cao, là một chất trơ trong môi trường. Nano bạc khi phân tán trong môi trường ao nuôi chúng sẽ phòng và diệt nguồn bệnh trong ao nuôi, ổn định màu nước, khử mùi hôi tanh của nước.

II./ Quy trình áp dụng công nghẹ Nano bạc:

1./Chuẩn bị ao nuôi:

Vệ sinh ao: sau mỗi vụ nuôi, ao nhất thiết phải sên vét lớp bùn đáy nếu có thể nên loại bỏ hết lớp bùn lắng tụ ở đáy, mầm bệnh và khí độc. Bón vôi nóng CaO diệt khuẩn ở ao dùng 7-10 kg / 100m2.

Phơi đáy ao: ao cần phơi khô đáy 3-7 ngày, công việc này giúp oxy hóa các vật chất hữu cơ còn lạị.

2./ Chuẩn bị nguồn nước: (Sử dụng hệ thống ao lắng)

Nước được cấp vào ao lắng xong chúng ta để 2-3 ngày để trứng các loại cá tạp, giáp xác nở hết thì tiến hành đánh diệt tạp. Sử dụng Iodin nồng độ 20ppm, đánh clorine 30ppm/ 1000 m3. Sau đó chạy quạt khí trong vòng 30 phút và tắt quạt mục đích làm clorine hòa tan đều khắp ao. Sau 2-3 ngày đánh diệt tạp chúng ta sẽ tiến hành đánh diệt khuẩn bằng dung dich NANOBAC500ppm công nghệ Nano Bạc. Với liều đánh 500 ml hòa tan 100 lít nước và tạt đều cho 1000m3 nước nuôi. Sau 24h có thể tiến hành cấp nước vào ao nuôi. Kiểm tra: pH 7.9 – 8.2, Độ mặn 10-15‰. Độ kiềm 100-120. khí độc NH3< 0.03, H2S< 0.2.
Trước khi gây màu 2 ngày chúng ta có thể đánh diệt khuẩn nhắc lại NANOBAC500ppm liều dùng 1 chai 500ml hòa tan trong 100 lít nước ta dùng cho 1000 m3

3./ Quy trình xử lý và thả giống:

Tôm trước khi thả sẽ được tắm qua dung dịch NANOBAC500ppm trong vòng 5-10 phút (100ml hòa tan trong 50 lít nước) với liều lượng trên chúng ta có thể tắm cho 25.000 – 30.000 tôm giống

Chú ý: Trong quá trình tắm cho tôm phải sục khí đảo đều dung dịch tắm nhắm tránh gây ngạt cho tôm.

4./ Quy trình nuôi Tôm sử dụng sản phẩm NANOBAC 500ppm (ao 1000 m3)

– Kiểm tra và theo dõi chất lượng nước thường xuyên PH 7.9 – 8.2, Độ mặn 10-15‰ Độ kiềm 100-120, độ trong 30 – 40 cm.

– Xử lý nước châm thêm vào bằng NANOBAC500ppm như sau:

+ Mức nước thay: 20% mực nước hồ nuôi tương đương 200m3 nước.

+ Lượng NANOBAC500ppm: 100 ml xử lý 200m3 nước ao nuôi. Khi thay nước cần bổ sung can xi, khoáng và đặc biệt nên bổ sung vitamin C vào thức ăn để tăng đề kháng và chống sốc cho tôm.

Phòng bệnh vi bào tử trùng (tôm chậm lớn) trên tôm thẻ chân trắng

Từ giữa năm 2014, tình trạng tôm nuôi bị chậm lớn diễn ra tại nhiều vùng nuôi tôm Việt Nam, gây thiệt hại đáng kể. Tôm chậm lớn do nhiều nguyên nhân, trong đó cần kể nhiễm vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP)

Đặc điểm bệnh EHP

Triệu chứng của bệnh EHP trên tôm thẻ chân trắng không rõ ràng. Khi tôm giống bị nhiễm EHP, thả nuôi trong tháng đầu tiên thường vẫn phát triển bình thường; nhưng sau khi tôm đạt trọng lượng 3 – 4 gram/con, lượng sinh khối tôm trong ao tăng dần thì tôm cũng chậm lớn dần rồi có thể dừng lớn hẳn. Tôm nuôi 90 – 100 ngày tuổi vẫn có thể chỉ đạt cỡ 4 – 5 gram/con.

Tôm chậm lớn ở đây do vi khuẩn EHP ký sinh trong tế bào gan tuỵ tôm. Vi bào tử trùng này ký sinh nội bào và sử dụng dinh dưỡng, năng lượng dự trữ trong gan tụy, khiến tôm nuôi không đủ dinh dưỡng cho tăng trưởng và lột xác. Tôm càng ăn nhiều thức ăn thì phân thải ra càng nhiều, trong khi bệnh EHP lây qua đường phân – miệng, không cần ký chủ trung gian.

Có nhiều loại vi bào tử trùng gây bệnh cho tôm, đòi hỏi phải có ký chủ trung gian, như Agmasoma đòi hỏi có ký chủ trung gian trong vòng đời. Tuy nhiên, EHP có thể lây trực tiếp từ con này sang con khác. Do đó, có quan ngại rằng cá rô phi trong hệ thống nuôi kết hợp là nguồn gây bệnh EHP theo tôi là chưa đủ cơ sở vững chắc. Chúng tôi có làm nghiên cứu kiểm tra mẫu cá rô phi của nhiều ao nuôi trong hệ thống kết hợp cũng như cá rô phi giống nhưng vẫn chưa thấy trường hợp nào cá rô phi có nhiễm EHP. Ngoài ra, nếu ta đưa cá giống rô phi từ các trại giống từ vùng nước ngọt về nuôi trong hệ thống nước lợ thì nguy cơ gây bệnh cho tôm từ mầm bệnh có trên cá rô phi là rất thấp.

Chẩn đoán

Phương pháp mô học

Đối với bệnh EHP thì việc chẩn đoán bệnh sử dụng phương pháp mô học rất khó khăn, do biến đổi mô học trên gan tụy không rõ ràng.

Phương pháp sinh học phân tử

Đây là phương pháp có thể phát hiện ra mầm bệnh vi bào tử trùng. Nhóm nghiên cứu của chúng tôi cùng Gs. Lightner đã có phương pháp phát hiện mầm bệnh EHP với kỹ thuật PCR và real-time PCR. Nhóm nghiên cứu của Gs. Flegel cũng phát triển được kỹ thuật PCR, LAMP, và nested PCR. Bằng kỹ thuật PCR, có thể phát hiện ra mầm bệnh EHP trên ao nuôi thương phẩm. Đối với trại giống, mầm bệnh có thể được phát hiện từ phân tôm bố mẹ, thức ăn tươi sống cho tôm bố mẹ (hàu, mực), từ ấu trùng tôm và tôm post. Một tỷ lệ cao các thức ăn tươi (hàu, dời, mực…) được khai thác ở khu vực Ninh Thuận, Khánh Hòa dương tính với vi bào tử trùng EHP. Việc sử dụng thức ăn tươi sống đánh bắt tại khu vực lân cận trại giống hay vùng nuôi tôm là nguy cơ rất lớn về an toàn sinh học và dịch bệnh.

Khống chế bệnh

Hiện chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Do đó, việc kiểm tra, kiểm soát mầm bệnh từ tôm giống hết sức quan trọng. Tôm giống có thể được kiểm soát xem có nhiễm EHP bằng phương pháp PCR.

Ở trại nuôi, công tác chuẩn bị ao có vai trò rất quan trọng. Do EHP có sức chống chịu tốt đối với các phương pháp khử trùng thông thường nên khó loại mầm bệnh ra khỏi hệ thống. Có nghiên cứu cho rằng EHP có thể tồn tại sau khi đã xử lý Chlorine ở 100 ppm. Có khuyến cáo nên sử dụng vôi nóng (CaO) để xử lý ao để có thể đạt độ pH đáy ao trong quá trình cải tạo cao hơn 11 – 12 để làm chết mầm bệnh EHP.

Thay đổi thực hành sản xuất giống

Việc chúng ta hiện tại chỉ kiểm soát các mầm bệnh đã được OIE đề nghị đối với tôm biển đã tạo kẽ hở lớn cho việc kiểm soát mầm bệnh mới xuất hiện, trên cả thế giới.

Ở góc độ trại tôm giống, sự kiểm soát thông thường với mầm bệnh virus, phải tập trung hơn nữa công tác an toàn sinh học theo hướng tích cực phòng bệnh do vi khuẩn và ký sinh trùng. Trại giống nên lưu ý khi nhập tôm bố mẹ nhập khẩu các nước đang có mầm bệnh EMS/AHPND và EHP. Ngoài ra, nên có khu cách ly và có sự kiểm soát chặt mầm bệnh do virus, EMS/AHPND và EHP trước khi đưa vào sản xuất. Với thức ăn tươi, nên kiểm soát kỹ mầm bệnh, không nên sử dụng thức ăn tươi đánh bắt từ khu vực gần trại giống, vùng nuôi, cho ăn trực tiếp. Việc sử dụng thức ăn tươi nhập từ các nước không có mầm bệnh và không có nghề nuôi tôm cũng là lựa chọn tốt. Trong hoàn cảnh hiện tại, các trại giống nên cân nhắc việc thanh trùng thức ăn tươi bằng phương pháp Pasteur hay chiếu xạ Gamma, có thể làm cho tôm bố mẹ giảm khả năng sinh nhiều trứng và ấu trùng nhưng giúp tăng độ an toàn đối với trại giống cũng như trại nuôi sử dụng nguồn tôm giống này.

Ngoài ra, việc kiểm soát mầm bệnh bằng phương pháp PCR nên được xuyên suốt quá trình sản xuất giống. Ngoài ra, các phương pháp ương nuôi ấu trùng theo sinh học, vi sinh nên được ứng dụng để khống chế các bệnh do vi khuẩn như EMS/AHPND.

Khi chủ động, tích cực kiểm soát dịch bệnh thì có thể kiểm soát được mầm bệnh trong trại giống, nhưng sẽ tăng, có thể đến 25%, trại sản xuất giống khó chấp nhận. Do đó, phải coi sản xuất giống sạch bệnh là đầu tư cho người nuôi tôm, tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến thủy sản. Cần có vai trò nhà nước trong điều phối hợp tác, chia sẻ rủi ro giữa các bên: nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà nông, nhà khoa học

Kiểm soát và ước tính lượng thức ăn cho tôm thẻ

tôm-thẻ-chân-trắng

tôm-thẻ-chân-trắng

tom-the-chan-trang

tom-the-chan-trang

 

Nếu lượng thức ăn dư sẽ làm đáy ao mau dơ, tảo dễ bùng phát mạnh, tôm dễ bị stress và yếu do khí độc sinh ra từ đáy ao. Đặc biệt là gây lãng phí thức ăn cũng như giảm lợi nhuận cho bà con nuôi tôm.

Nếu không đủ thức ăn, tôm sẽ chậm lớn, kích thước đàn tôm không đồng đều và đặc biệt là kéo dài thời gian nuôi.

Tôm thẻ có nhu cầu đạm thấp hơn tôm sú nhưng tôm thẻ lại là loài ăn liên tục nên kiểm soát lượng thức ăn là một trong những yếu tố giúp vụ nuôi thành công hơn.

Bảng 1: Cho ăn dựa vào trọng lượng tôm.

Trọng lượng tôm (g) %
2 9.5
3 5.8
5 5.3
7 4.1
10 3.3
12 3
15 2.6
20 2.1
25 1.5
30 1.3

Ngoài việc kết hợp Bảng cho ăn dựa vào trọng lượng tôm thì bà con nuôi tôm cũng cần kết hợp với việc kiểm soát thức ăn cho vào nhá để có thể điều chỉnh lượng thức ăn cụ thể và chính xác nhất vào từng thời điểm.

Bảng 2: Tính lượng thức ăn cho vào nhá

Trọng lượng (g) Thức ăn (g/kg/ nhá) Thời gian kiểm tra (tiếng)
1.5 -4.0 1 2.5
5.0 – 8.0 2 2.5
9.0 – 16.0 3 2
17.0 – 22.0 4 2
23.0 – 33.0 5 1.5

Thức ăn cho vào nhá sẽ được kiểm tra sau 1,5 – 2,5 tiếng tùy vào từng giai đoạn nuôi. Việc kiểm tra nhá sau khi cho ăn cũng rất quan trọng, giúp bà con điều chỉnh được lượng thức ăn phù hợp với nhu cầu của tôm.

Bảng 3: Điều chỉnh lượng thức ăn thông qua cách kiểm tra nhá cho ăn

Lượng thức ăn thừa (%) Điều chỉnh lượng thức ăn cho vào nhá
0% Tăng 5%
30% Giữ nguyêzn
60-70% Giảm 5%
90% Giảm 10%
100% Giảm 30%

Tôm trong nhá

Khi cho ăn, các tôm yếu thường ở lại trong nhá

Ngoài việc tính toán và kiểm soát lượng thức ăn thì việc cho tôm ăn thức ăn có hàm lượng đạm riêng ở từng giai đoạn nuôi cũng là một trong những yếu tố rất đáng quan tâm.

Bảng 4: Đạm tối thiểu dựa vào trọng lượng tôm

Trọng lượng (g) % Đạm tối thiểu
0.02 – 0.2 38%
0.2 – 1.0 35%
1.0 – 3.0 34%
3.0 – 8.0 34%
8.0 – 12.0 32%
12.0 20.0 32%
> 20.0 28%

Tôm thẻ nên cho ăn 4 lần/ ngày được xem là hiệu quả nhất và thời gian cho ăn cụ thể căn cứ vào bảng bên dưới:

Bảng 5: Thời gian cho ăn

Số lần cho ăn Thời gian cho ăn
Lần 1 7:30 – 8:00
Lần 2 12:00 – 12:30
Lần 3 17:00
Lần 4 22:00 (30% lượng thức ăn cả ngày)

Lượng thức ăn vào ban đêm cho tôm thẻ chiếm 30% tổng lượng thức ăn trong ngày vì tôm thẻ là loài hoạt động về đêm,  nên cho ăn đủ vào ban đêm sẽ giúp tôm hấp thu tối đa dinh dưỡng.

Trong trường hợp oxy hòa tan thấp, nên ngưng cho tôm ăn và chờ đến khi oxy hòa tan tăng cao rồi mới cho ăn.

Những lưu ý trong quản lý thức ăn:

-Lúc trời mưa lớn nên tránh cho ăn vì sẽ xảy ra hiện tượng dao động nhiệt độ và độ mặn ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi của tôm.

-Khi ao xảy ra hiện tượng tảo tàn nên tránh cho tôm thẻ ăn do hàm lượng khí độc trong ao tăng cao. Những khí độc như ammonium/ nitrate (NH4, NO3) sẽ rất dễ gây stress và ảnh hưởng đến sức khỏe tôm, gan tụy, khả năng bắt mồi.

-Trong suốt giai đoạn tôm lột xác nên giảm lượng thức ăn và bổ sung thêm khoáng.

-Ruột có màu đen: nghĩa là tôm chỉ ăn thức ăn tự nhiên có trong ao, do đó nên bổ sung thêm thức ăn cho tôm.

– Ruột màu nâu: là thức ăn đầy đủ.

Nhận biết phân tôm tốt

Phân tôm có màu thức ăn – dấu hiệu tôm được cho ăn đầy đủ