Kinh nghiệm thả tôm sú giống

Trong nuôi tôm, ít người chú ý đến kỹ thuật thả tôm vì đơn giản họ nghĩ rằng thả tôm như thế nào cũng không ảnh hưởng đến sự sống của tôm. Thực tế không phải như vậy, kỹ thuật thả tôm rất quan trọng đến sự thích nghi và sức khỏe của tôm sau khi được chuyển từ môi trường này đến môi trường khác.

Mật độ nuôi:

Nếu diện tích ruộng nuôi từ 0,5-1,0ha thì thả 3-4 con/m vuông. Diện tích ao dùng bạt HDPE lót hồ tôm nhỏ hơn 0,5ha thì thả 5-10 con/m vuông.

màng-bạt-hdpe-lót-hồ-tôm

màng-bạt-hdpe-lót-hồ-tôm

Phương pháp thả giống:

Thả giống đúng kỹ thuật sẽ góp phần tăng tỷ lệ sống của đàn tôm. Nên thả tôm vào lúc sáng sớm hay chiều mát. Không nên thả tôm vào lúc trời mưa hay trong điều kiện môi trường ao nuôi dùng bạt HDPE lót hồ tôm chưa thích hợp. Thả tôm vào đầu hướng gió để tôm dễ phân tán khắp ao dùng bạt HDPE lót hồ tôm. Có 2 cách thả tôm tốt như sau:

Cách 1: Các bọc tôm mới chuyển về được thả trên mặt ao trong khoảng 10-15 phút để cân bằng nhiệt độ trong và ngoài bọc, sau đó mở bọc cho tôm bơi ra từ từ. Phương pháp này áp dụng cho trường hợp độ mặn của nước trong và ngoài bọc tôm chênh lệch nhau không quá 5 phần ngàn. Cần làm cầu gần mặt nước để có thể mở bọc thả tôm dễ dàng, tránh lội xuống làm đục nước ao dùng bạt HDPE lót hồ tôm

Cách 2: Thường áp dụng cho trường hợp độ mặn của nước trong bọc tôm và độ mặn của nước ao chênh lệch quá 5 phần ngàn. Tôm mới chuyển về cần một thời gian thuần hóa ngay tại ao dùng bạt HDPE lót hồ tôm để tôm thích nghi dần với độ mặn của nước ao và các yếu tố môi trường khác. Cần chuẩn bị một số thau lớn dung tích khoảng 20 lít và máy sục khí. Đổ các bọc tôm vào thau, khoảng 10.000 con/thau và sục khí. Cho thêm nước ao vào thau từ từ để tôm thích nghi dần. Sau 10-15 phút nghiêng thau cho tôm bơi ra từ từ. Có thể ước lượng tỷ lệ sống của đàn tôm bằng cách dùng lưới vào diện tích 2-3 m vuông và sâu 1m đặt ngay trong ao dùng bạt HDPE lót hồ tôm, thả vào lưới 1.000 – 2.000 tôm bột, cho tôm ăn bình thường. Sau 3-5 ngày kéo lưới vèo lên đếm và xác định ỷ lệ tôm còn lại.

Một số dấu hiệu cho thấy tôm khỏe và thích nghi với môi trường ao nuôi dùng bạt HDPE lót hồ tôm  là không có tôm chết khi thuần trong thau, tôm bơi lội linh hoạt, bám thành thau. Tôm sau khi thả xuống ao thì bơi chìm xuống đáy ao, không bám theo mí nước, không nổi trên mặt nước.

Tiêu chuẩn chọn tôm sú giống

tom-su-mang-hdpe-bat-lot-ho-tom tom-su-mang-hdpe-bat-lot-ho-tom

 

Tôm giống tốt là yếu tố rất quan trọng để đạt năng suất cao trong khi nuôi và phòng tránh được các loại bệnh gây ra cho tôm.

Tiêu chuẩn lựa chọn:

– Con giống phải đồng đều, cùng kích cỡ, khoảng 12mm.

– Tôm sú có 6 đốt ở bụng, các đốt này càng dài càng tốt và tôm sẽ lớn nhanh. Tôm có đuôi, râu hình dáng chữ V và góc hai râu sát nhau như góc chữ V là tôm khoẻ.

– Các chân ở phần đuôi gọi là chân đuôi hay đuôi, khi bơi xoè rộng, khoảng cách giữa 4 chân ở phần đuôi càng xa càng tốt…

– Cơ thịt bụng tôm co đều đặn, căng bóng mới tạo được dáng vẻ đẹp cho tôm.

– Không có vật lạ như nấm, vi khuẩn, hay nguyên sinh động vật bám ở chân, bụng, đuôi, vỏ và mang tôm. Những vật lạ này sẽ làm tôm bị ngạt và không lột xác được.

– Màu sắc tôm tươi sáng, vỏ mỏng, có màu tro đen đến đen, đầu thân cân đối là con giống tốt.

– Tôm bơi ngược dòng rất khoẻ khi đảo nước trong chậu hoặc bám chắc khi bị dòng nước cuốn đi. Nếu có 10 trong số 200 con thả mà trôi theo dòng nước là giống tôm yếu, tôm xấu. Tôm phàm ăn, ăn tạp, chân ngực bắt giữ mồi tốt là con giống tốt.

– Tôm có khả năng chịu đựng tốt khi dùng formol. Số tôm bị chết ít (5/150 con) khi dùng formol 1cc/10 lít nước, đó là giống tốt.

Sau khi chọn lựa tôm giống theo các tiêu chuẩn trên, trước khi thả tôm vào ao sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm, phải tắm vô trùng cho tôm rồi thả tôm giống vào ao hoặc ương tiếp 15- 20 ngày, sau đó tuyển chọn tiếp lần nữa mới thả nuôi sẽ đảm bảo hơn.

Tuyển chọn lại những con tôm khoẻ, xoè đuôi ra hết cỡ khi bơi. Những con thích bơi ngược dòng nước thả vào ao là tốt nhất. Mật độ thả trung bình 5- 7 con/m2 với nuôi quảng canh và 30 – 50 con nếu nuôi thâm canh.

NTNN, 8/9/2003

 

Cách chọn tôm sú giống tốt   

Chuyên trang đồng bằng sông Cửu Long có nhận được thư của ông Trần Văn Phú (xã Vĩnh Tiến – Vĩnh Châu – Sóc Trăng), ông Trần Mạnh Giỏi (xã An Minh Bắc – huyện An Minh – Kiên Giang), ông Lê Hoài Vọng (Thạnh Phú – Bến Tre), chị Trần Thị Diệu (thị trấn Mỹ Long – Cầu Ngang – Trà Vinh). Bà con hỏi: Làm thế nào để biết con tôm sú giống tốt? Xin trả lời:

Với những “đại gia” nuôi tôm công nghiệp (như Công ty SEACO Sóc Trăng của anh em ông Lưu Thống Nhứt với cả ngàn hécta mặt nước) thì họ đầu tư rất nhiều công sức, tiền bạc cho việc chọn lựa tôm sú giống, từ lấy vài chục mẫu ở các cơ sở nổi tiếng, gởi cơ quan chuyên môn kiểm định nghiêm ngặt đến đặt hàng, tổ chức vận chuyển về điểm nuôi v.v… Riêng bà con nuôi qui mô nhỏ (dù mô hình công nghiệp hay quảng canh, tôm-lúa…) ít điều kiện hơn có thể làm theo cách sau để tìm mua tôm sú giống đáng tin cậy hầu giảm rủi ro.

1- Tuyệt đối không mua tôm giống trôi nổi của những người không có giấy phép hành nghề cung cấp tôm sú giống. Không mua tôm sú giống của những điểm cung cấp có giấy phép nhưng “lô hàng” đang chào bán lại không chứng minh được đã qua sự kiểm dịch và đồng ý cho phân phối của cơ quan chuyên môn.

2- Quan sát thấy tôm sú giống tỏ ra linh hoạt, khỏe mạnh, phân bổ đều trong bể nuôi, hình dáng thon dài, ruột đầy thức ăn (khả năng bắt mồi tốt), tỉ lệ tòe đầu nhỏ hơn 10%. 3- Kiểm tra khả năng thích nghi trong môi trường thay đổi nồng độ mặn bằng cách thả một ít tôm giống vào nước đã giảm một nửa độ mặn thông thường. Sau 1-2 giờ nếu thấy số tôm giống bị “sốc” chết chỉ chiếm từ 0 – 10% (tốt), 11-35% (khá), trên 35% là tôm giống không tốt.

Đối với tôm giống kém chất lượng, nhiều nơi thương lái đưa ra “chiêu”: cho nợ 50% tới khi thu hoạch mới thanh toán dứt điểm. Xin bà con đừng ham rẻ vì công sức, tiền của bỏ ra lớn nhưng kết quả rất có thể là trắng tay, hoặc chỉ vừa đủ trả 50% tiền nợ còn lại! Tôm chết rồi, thương lái có nhiều lý do đổ thừa mà cách dễ nhất là đổ thừa cho… ông Trời: “Thời tiết không thuận lợi”.

KIỀU PHONG –  SGGP, 30/3/2005

Cách chọn tôm giống tốt

Những năm qua, một số hộ nuôi tôm thành công nhờ mua tôm từ những trại sản xuất giống có chất lượng. Kinh nghiệm cho thấy, nếu chưa có mối quan hệ tốt với một trại đáng tin cậy, người nuôi tôm nên dựa vào một số chỉ tiêu biểu hiện mối liên quan giữa chất lượng tôm giống và sự sinh trưởng của tôm để lựa chọn được con giống tốt. Đây là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng tôm, góp phần không nhỏ để người nuôi trồng tránh được thiệt hại không đáng có.

Tôm bột khỏe khi bơi sẽ thấy cơ thể thẳng, phản ứng nhanh với tác động bên ngoài (ví dụ: vỗ vào thành thau hay chậu chứa tôm) và chủ động bơi ngược dòng khi khuấy nước. Khi dòng nước trở lại trạng thái yên tĩnh, tôm sẽ có khuynh hướng bám vào thành nhiều hơn là bị nước cuốn vào giữa thau hay chậu. Tôm bột không khỏe sẽ lờ đờ, không phản ứng và cơ thể cong vẹo khi bơi lội. Khó ước lượng được chính xác giai đoạn phát triển của tôm bột. Sự phát triển này không những chỉ ảnh hưởng bởi thời gian từ lúc biến thái thành tôm bột mà còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện nuôi. Vì lý do đó, việc xác định tuổi tôm cũng rất khó khăn nên người ta thường dựa vào chiều dài con tôm để chọn tôm giống. Tuy nhiên, nên tránh những đàn tôm tuy đạt kích cỡ nhưng phát triển chậm. Tốt nhất nên chọn tôm có chiều dài từ 11 – 13mm và từ 15 ngày sau khi biến thái thành tôm bột trở lên. Tôm chọn phải có kích thước đồng đều, nếu có kích thước nhỏ không nên vượt quá tỉ lệ 5%.

Màu sắc của tôm bột cũng là chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tôm giống. Tuy nhiên, không có nhiều dấu hiệu về ảnh hưởng của giai đoạn lột vỏ đến màu sắc tôm. Sự xuất hiện tế bào sắc tố ở nhánh chân đuôi làm cho đuôi tôm xòe ra chính là dấu hiệu rất tốt về giai đoạn phát triển. Nếu chân đuôi không hiện diện sắc tố, có thể làm cho chân đuôi khép lại, đó là tôm bột chưa phát triển đầy đủ để thả nuôi. Nếu được, nên quan sát tôm dưới kính hiển vi và đánh giá sự căng phồng của các tế bào sắc tố ở phần bụng. Ở tôm bột khỏe, các tế bào sắc tố thường xuất hiện dưới dạng những đốm nhỏ có dạng hình sao. Ở tôm bột yếu, các tế bào sắc tố thường lan rộng làm thành những vạch nối tiếp nhau phía dưới phần bụng.

Để tránh chọn tôm giống có mầm bệnh, ngoài xem xét phần cơ và bề dày của đốt bụng thứ sáu, phụ bộ và chủy tôm phải có hình dạng bình thường, không bị ăn mòn hay có màu đen; các chân, râu phải nguyên vẹn. Tôm bị đóng rong do động vật nguyên sinh hay vi khuẩn được coi là dấu hiệu của chất lượng kém. Sự hiện diện của sinh vật này cũng bị ảnh hưởng bởi giai đoạn tôm lột vỏ. Nếu phần lớn tôm bột bị đóng rong là dấu hiệu của chất lượng nước ương xấu và tôm không lột vỏ thường xuyên. Tỷ lệ sinh vật bám cao luôn gặp ở tôm dưới đáy bể. Tôm khỏe mạnh, mặc dù bị một ít sinh vật bám vẫn có thể nuôi sau khi xử lý. Điều quan trọng là không chỉ xem xét tôm yếu mà còn phải lưu ý tới sự bơi lội chủ động của tôm.

 

VŨ CA (Theo tài liệu của Trung tâm Khuyến ngư) – WKH, 2/08/2005

Kỹ Thuật Nuôi Ghép Hàu Với Tôm Sú trong ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm

Nhóm nghiên cứu của Khoa Nông Lâm Ngư- Đại học Vinh đã triển khai mô hình nuôi theo hướng này tại xã Hưng Hoà, thành phố Vinh, Nghệ An.

Ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm có diện tích 4.000 – 4.100 m2, mức nước 1,2 – 1,4m, độ mặn 25 – 15%o giảm dần từ đầu đến cuối vụ nuôi. Hai giàn quạt nước (24 cánh/giàn) được bố trí đảo chiều ở giữa ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm

Tôm sú nuôi theo quy trình nuôi đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) của đề tài cấp nhà nước KC-06-20.NN. Mật độ tôm nuôi: 22 – 24 con/m2, cỡ tôm PL15. Sử dụng thức ăn Seahorse của hãng Grobest. Các chế phẩm sinh học sử dụng trong nuôi thực nghiệm gồm: Super clean, Pond-clear, BZT.

Thời gian nuôi: Tháng 4 đến tháng 8 trong năm.

Hàu giống thả nuôi sau khi thả tôm giống 10 – 15 ngày, cỡ giống 10 – 20 g/con, mật độ thả 130 – 150 con/giỏ, kích thước giỏ 30 x 40 x 10cm, thả 80 – 85 giỏ/ao. Treo các giỏ trên giàn dây, cách đáy 30 – 40cm. Các giàn nuôi được bố trí trước và sau hệ thống quạt nước, cách giàn quạt nước 8 -10m.

Sử dụng các phương pháp thường quy trong nghiên cứu NTTS để xác định các yếu tố: Độ trong, nhiệt độ nước, độ pH, kiềm, DO, hàm lượng NH3, H2S, độ mặn, BOD5, COD.

Các yếu tố pH, DO, nhiệt độ nước đo ngày 2 lần lúc 6 giờ 30phút đến 7 giờ sáng và 13-15 giờ chiều. Các yếu tố độ mặn, NH3, H2S, độ kiềm, độ trong đo hàng ngày vào buổi sáng từ 8 -10 giờ. BOD5 và COD đo định kỳ 15 ngày/lần.

Phương pháp theo dõi một số chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của tôm, hàu

+ Tỷ lệ sống của tôm, hàu

Số cá thể tại thời điểm xác định (con)

Tỷ lệ sống (%) = x 100

Số cá thể ban đầu (con)

+Khối lượng trung bình của tôm, hàu (Wtb)

Khối lượng mẫu (g)

Wtb=

Số cá thể trong mẫu (con)

+Tốc độ tăng trưởng khối lượng của tôm, hàu

Wtb lần cân sau (g/con) – Wtb lần cân trước (g/con)

Tốc độ tăng trưởng (g/ngày) = Khoảng thời gian giữa 2 lần cân (ngày)

+Năng suất tôm, hàu nuôi (Y)

Tổng sản lượng tôm thu được của ao nuôi (kg)

Y(kg/ha) = x 10 000

Diện tích ao nuôi (m2) sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm

Kết quả cho thấy, tỷ lệ sống của hàu sau 3 tháng nuôi đạt từ 67 – 78%. Như vậy, không có sai khác lớn về tỷ lệ sống giữa hàu nuôi ghép trong ao tôm sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm  và hàu nuôi ở các đầm nước lợ.

Sau 90 ngày nuôi, từ cỡ hàu giống khoảng 17,5g/con đã đạt kích cỡ từ 50,8g – 52,8g/con. Các cá thể hàu nuôi khá đồng đều, độ lệch chuẩn về khối lượng hàu có xu hướng tăng lên nhưng không quá lớn.

Khi nuôi thương phẩm hàu cửa sông trong đầm nước lợ cho thấy: Từ cỡ hàu 12,8 – 15,6g/con sau 3 tháng nuôi đạt cỡ 45 – 50 g/con (tính từ tháng nuôi thứ 3 đến tháng thứ 6). Như vậy, sự tăng trưởng khối lượng của hàu nuôi ghép trong ao tôm tương đương hàu nuôi thương phẩm trong đầm nước lợ.

Thời gian đầu do quá trình vận chuyển và việc thay đổi môi trường sống từ tự nhiên vào trong ao tôm dẫn đến hàu yếu và tăng trưởng rất chậm. Từ tháng thứ 2, hàu tăng trưởng nhanh nhờ thức ăn dồi dào, điều này thể hiện rõ trên đồ thị gia tăng khối lượng hàu nuôi.

Năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình: Sau 4 tháng nuôi, với mật độ thả tôm giống 15 – 20 con/m2 đạt năng suất 1,5-2,5 tấn/ha và với mật độ thả 25 – 40 con/m2 đạt năng suất 4 – 6 tấn/ha. Như vậy, năng suất tôm nuôi trong mô hình thử nghiệm nuôi ghép này đạt từ 2,68 – 4,14 tấn/ha sau 4 tháng nuôi, mật độ thả 22- 24 con/m2 là phù hợp với quy trình.

Việc nuôi ghép hàu trong ao tôm sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm  có vai trò tích cực trong việc tăng năng suất tôm nuôi. Điều này có thể giải thích do sự ổn định hơn về môi trường nuôi, mặt khác các giỏ và hệ thống giàn nuôi hàu đã làm tăng diện tích sống, sạch cho tôm nuôi, nhất là với những tôm bị yếu hay bị bệnh.

Pha Nước Biển Nhân Tạo Để Ươm Tôm Sú Giống

Khoa thủy sản Trường đại học Cần Thơ vừa thử nghiệm thành công trong việc pha nước biển nhân tạo để ươm tôm sú giống. Bằng kỹ thuật này, tôm sú giống có tỷ lệ nuôi sống cao hơn nuôi trong nước biển tự nhiên.

Các tác giả đã tạo ra nước biển bằng cách pha chế các hóa chất và muối tự nhiên vào nước ngọt.

Sau đó, dùng nước biển nhân tạo pha với nước biển tự nhiên theo tỉ lệ 75% nước biển nhân tạo, 25% nước biển tự nhiên, tạo thành dung dịch thích hợp để ươm tôm giống.

Theo các nhà khoa học ở đây cho biết, môi trường này tốt hơn nước biển tự nhiên.

Nước biển tự nhiên khắc phục tình trạng nồng độ muối trong nước biển thấp vào mùa mưa, nhất là những địa phương xa biển, không có điều kiện vận chuyển nhiều nước biển ươm tôm giống. Sau đó, nước biển này còn được xục khí ozone để diệt khuẩn thay thế cho phương pháp sử dụng thuốc kháng sinh. Nước trong các bể ươm ấu trùng tôm liên tục được bơm tuần hoàn qua các bể lọc có chứa các loại vi khuẩn có lợi.

Vi khuẩn sẽ biến các hợp chất chứa Ammonia độc hại trong nước thành nitrat không độc, sau cùng nước được cho chảy trở lại bể ươm.

Kết quả cho thấy tỉ lệ tôm giống sống từ 85 – 90%, chất lượng lại cao vì sạch bệnh.

Phương pháp này đã được đưa vào ứng dụng sản xuất tôm giống đại trà. Ngoài ra, các nhà khoa học còn thử nghiệm nuôi tôm sú bố mẹ theo phương pháp trên, bước đầu đạt kết quả khả quan.

Bệnh Phân Trắng Ở Tôm Sú Và Cách Phòng, Trị

Bệnh phân trắng ở tôm sú thường xảy ra ở tôm 40-50 ngày tuổi trở lên, mức độ xảy ra nhiều nhất là 70-80 ngày tuổi. Phân trắng xuất hiện nhiều hay ít phụ thuộc vào mật độ nuôi, mức độ của bệnh và số lượng tôm nhiễm bệnh. Mặc dù bệnh không gây tôm chết đồng loạt nhưng làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng tôm nuôi.

Sau đây là một số cách phòng, chống bệnh phân trắng ở tôm sú.

Xử lý môi trường ao nuôi tôm sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm

Chất hữu cơ nguồn gốc từ các chất cặn bã có trong đáy ao sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm là môi trường rất thích hợp cho vi khuẩn phát triển, gây tác hại cho tôm với cơ hội nhiễm bệnh cao. Cần phải thực hiện một số biện pháp sau:

– Thực hiện nghiêm ngặt việc kiểm soát nguồn nước bằng hóa chất và chế phẩm sinh học.

– Tỷ lệ thả tôm giống phải phù hợp, giống có chất lượng tốt, có chương trình cho tôm ăn đúng lượng cần thiết, quản lý, xử lý phiêu sinh vật tốt, kể cả việc xử lý tuần hoàn để sử dụng lại và việc loại bỏ vật bẩn trong ao phải thực hiện thường xuyên.

Xử lý đáy ao tốt trước khi nuôi tôm:

Kiểm tra thường xuyên số lượng vi khuẩn trong gan theo định kỳ :

Bằng cách kiểm tra số lượng vi khuẩn trong gan (chỉ với nhóm Vibrio).

Lấy mẫu : 10 con cắt bộ phận gan bỏ vào ống nhựa nhỏ đã vô trùng, cho vào dung dịch nước muối đã khử trùng 0,85%, nghiền nát và cấy trong môi trường TSBS. Nếu thấy vi khuẩn trong gan cao hơn 1×104 tế bào thì phải xử lý ngay.

Sử dụng men sinh học và Probiotic:

Trộn vào trong thức ăn, đây là hình thức đưa vào trong hệ thống tiêu hóa của tôm, một tập đoàn các vi sinh vật có lợi và các men tiêu hóa ngoại bào. Các vi khuẩn này sẽ ức chế và tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh cho tôm, giúp tôm khỏe mạnh, tăng sức đề kháng và tăng trưởng nhanh.

Phương pháp sử dụng: Trộn theo tỷ lệ 0,5 kg cho 200 kg thức ăn cho tất cả các lần ăn. Có những trại tôm đã bị bệnh phân trắng, sau khi sử dụng kháng sinh kết hợp NAVET-BIOZYM đã làm tôm khỏi bệnh.

Tham khảo thêm Một số bệnh thường gặp ở nuôi tôm sú trên cát và cách phòng trị

Cân Bằng Ammonia Trong Ao Nuôi Tôm Sú lót màng HDPE, bạt HDPE

tom-su-mang-hdpe-bat-lot-ho-tom

Nuôi tôm sú đang là nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay, nghề nuôi tôm đã tiến đến việc thâm canh hoá ngày càng cao. Do đó, việc quản lý chất lượng nước trong môi trường ao nuôi ngày càng khó khăn, đặc biệt là sự phát sinh tính độc Ammonia (NH3) trong môi trường ao nuôi lót bạt HDPE

Đặt máy sục khí sao cho chất thải gom tụ ở giữa ao sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm

NH3 là dạng khí độc cho tôm, cá, nó được hình thành từ quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ, có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sức khỏe của vật nuôi như: ức chế sự sinh trưởng bình thường của tôm; giảm khả năng chống bệnh; gia tăng tính mẫn cảm của tôm đối với điều kiện không thuận lợi của môi trường.

Có hai phương pháp làm giảm tác hại của NH3:

Điều chỉnh NH3 thông qua độ pH

Trong ao sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm  thức ăn dư, ao giàu chất dinh dưỡng, phiêu sinh vật phát triển mạnh làm cho độ pH dao động mạnh trong ngày và tăng cao. Có thể dùng formline ở nồng độ 10-30ppm để giảm pH và cả mật độ phiêu sinh vật. Nếu pH vượt quá 8,5 ngừng bón vôi CaCO3. Sau khi pH giảm ở mức cho phép, cần xử lý thêm vi sinh hoặc vôi xử lý nền đáy để giảm khí độc NH3 và Dolomit ổn định pH.

Quản lý ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm

Ngoài các giải pháp kỹ thuật xử lý NH3 đã trình bày, các giải pháp quản lý ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm có tác dụng rất tốt và đỡ tốn kém hơn, đồng thời giảm được chất lắng tụ và khí độc phát sinh trong ao sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm

Duy trì mật độ tảo ổn định trong ao sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm, điều chỉnh màu nước sao cho mật độ tảo không thưa và không dày quá.

Sử dụng thức ăn có chất lượng cao, liều lượng vừa đủ.

Loại trừ váng tảo lam nổi trên mặt nước.

Cải tạo kỹ ao nuôi, phơi đáy, cày bừa, rải vôi để NH3 bay hơi vào khí quyển, hạn chế sự tồn lưu trong đất.

Tháo nước ở gần đáy theo định kỳ hoặc liên tục, cấp nước có chất lượng tốt.

Quan trắc, đánh giá lượng NH3 trong ao sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm  để sớm có giải pháp khắc phục.

Ngoài ra, cần kết hợp với việc thiết kế ao nuôi và vị trí đặt máy sục khí sao cho các chất thải gom tụ lại ở giữa ao.

Bạn nên tham khảo bài viết Nuôi tôm thẻ chân trắng: ao nhỏ, hiệu quả cao!

Những Biện Pháp Quyết Định Hiệu Quả Nuôi Tôm Sú

nguồn: Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Theo thống kê đến nay, diện tích nuôi tôm trong vùng quy hoạch toàn tỉnh Nghệ An đạt 1.610 ha, trong đó diện tích nuôi tôm he chân trắng là 309,25 ha tập trung ở một số huyện, thị là Quỳnh Lưu 165 ha, Diễn Châu 65 ha, Nghi Lộc 80,25 ha, TP Vinh 15 ha, Cửa Lò 4 ha….

bat-lot-ho-tom-HDPE-gia-re-ha-noi

bat-lot-ho-tom-HDPE-gia-re-ha-noi

bat-lot-ho-tom

Số liệu khảo sát của Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản cho thấy con tôm sú vẫn là đối tượng nuôi chính trong nuôi mặn lợ tại tỉnh Nghệ An.

Cũng theo báo cáo ban đầu của Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản thì năm nay năng suất tôm sú bình quân đạt 0,98 tấn/ha, trong đó năng suất nuôi thâm canh và bán thâm canh đạt 1,5 tấn/ha/vụ. Như vậy, trừ một số trường hợp cá biệt ở xã Quỳnh Bảng là hộ ông Hoàng Hường – Trịnh Môn đạt năng suất 5 tấn/ha, hộ ông Hoàng Tiêu đạt năng suất 4 tấn/ha, năng suất như trên là thấp hơn năng suất của năm 2008. Đâu là bí quyết thành công của hai trường hợp điển hình trên?

Trên cơ sở tìm hiểu và kinh nghiệm hai ông đúc kết được cho biết, muốn nuôi tôm sú đạt hiệu quả cao, người nuôi cần thực hiện một số biện pháp sau:

Thứ nhất, phải cải tạo ao, đầm nuôi tôm lót màng hdpe dày 0,3 mm đến 0,5 mm, bảo đảm đúng quy trình kỹ thuật: chỉ nên nuôi tôm một vụ trong năm để ao có thời gian nghỉ, tạo môi trường ổn định cho vụ nuôi sau đạt hiệu quả. Trước khi thả tôm giống cần kiểm tra các tiêu chí điều kiện thủy lý, thủy hóa như: quan sát thời tiết, môi trường nguồn nước, độ kiềm, độ mặn…

Thứ hai, cần có hệ thống ao lắng tương xứng để bảo đảm cấp, thay nước khi cần thiết, cần có khu vực chứa bùn thải trong quá trình cải tạo ao để tránh ô nhiễm môi trường ao nuôi và chủ động hoàn toàn trong việc thêm, thay nước khi cần thiết.

Thứ ba, đối với hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh mật độ không nên thả quá 20 con/m2, thời gian thả tôm giống đến khi thu hoạch tôm khoảng 120 – 140 ngày.

Thứ tư, khi lắp đặt thiết bị trong ao nuôi đầm nuôi tôm lót màng chống thấm HDPE phải chú ý tùy theo hiện trạng, hình dạng ao nuôi để lắp đặt nhằm đảm bảo gom được các chất thải theo mong muốn. Số cánh quạt nước trong ao nuôi để bổ sung ô-xy hợp lý nhất là khoảng một cánh/2.000 con tôm.

Thứ năm, tùy theo nguồn nước mặn từng năm mà đưa ra quy trình nuôi và xử lý cho phù hợp, nhất là ứng dụng các chế phẩm vi sinh theo sự khuyến cáo của ngành Nông nghiệp.

Bài viết tham khảo Hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm nước lợ thâm canh, bán thâm canh hạn chế dịch bệnh

Các Vấn Đề Khi Nuôi Tôm Sú Độ Mặn Thấp

Tôm sú (Penaeus monodon) có khả năng sống trong các môi trường độ mặn, từ 2 phần ngàn (ppt) đến 45 phần ngàn (2-45 ppt). Tuy nhiên, khi chọn nuôi tôm sú giống ở độ mặn quá cao hoặc quá thấp thường có nhiều vấn đề hơn là khi nuôi tôm trong khoảng độ mặn tối ưu cho đặc điểm sinh học của tôm sú (tối ưu là từ 15 đến 25 ppt). Nuôi tôm ở độ mặn cao hơn 30 ppt sẽ dễ làm bùng phát dịch bệnh, đặc biệt các bệnh virus đốm trắng, đầu vàng và vi khuẩn phát sáng. Vì vậy, người nuôi tôm có xu hướng nuôi tôm ở môi trường nước lợ hoặc ngọt nhưng khi nuôi tôm ở nước ngọt các vấn đề thường gặp phải là:

1. Độ mặn

Độ mặn thả nuôi không nên thấp hơn 7-8 ppt trong tháng nuôi đầu nhằm giảm thiểu tối đa việc gây sốc tôm khi hạ mặn từ trại giống chuyển về ao nuôi. Sau đó độ mặn ao nuôi có thể hạ từ từ xuống nhưng không nên xuống dưới 2ppt trong giai đoạn tôm giống đến khi đạt cỡ 12g. Nếu độ mặn thấp hơn 2ppt thì tôm sẽ dễ bị còi cọc và mềm vỏ và nếu hiện tượng này xảy ra, cần phải nâng độ mặn ao nuôi lên.

2. Quản lý nước

Người nuôi cần có ao lót màng HDPE, bạt HDPE lót hồ tôm chứa lớn để lắng nước ít nhất 3 ngày trước khi tái sử dụng lại cho ao nuôi. Nước đáy trong ao nuôi cần lấy thải bớt ra ao lắnghoặc ao xử lý khi màu nước ao nuôi trở nên đậm đặc, các kênh cấp nước nên có độ rộng tối thiểu 5m và độ sâu 1.5 mét để có đủ nguồn nước cấp cho ao nuôi  lót màng HDPE, bạt lót hồ tôm HDPE

3. Kiểm soát pH và Kiềm

Do việc nuôi tôm hiện nay là hạn chế thay nước nên hiện tượng phát triển quá mức của tảo trong ao lót màng HDPE, bạt HDPE lót hồ tôm  thường xảy ra và việc này sẽ kéo pH lên cao cũng như làm cho giá pH biến động ngày đêm lớn hơn vì vậy cần kiểm soát mật độ tảo cao vừa phải bằng cách định kỳ thay bớt lớp nước đáy ao lót màng HDPE, bạt HDPE lót hồ tôm  và châm thêm nước mới từ ao lắng. Giá trị pH nên vào khoảng 7.8-8.0 vào buổi sáng và không nên vượt quá 8.3 vào buổi chiều. Giá trị kiềm cũng không nên quá cao vì nếu pH>8.3 và Kiềm > 150 ppm thì ion canxi sẽ tích lũy nhiều trong vỏ tôm cũng làm tôm bị còi cọt.

4. Hiện tượng ăn nhau và gây chết tôm

Sau 70-80 ngày nuôi ở độ mặn quá thấp tôm sẽ dễ bị mềm vỏ và sẽ dễ bị tôm không lột xác tấn công ăn thịt các tôm lột xác, vì vậy cần nâng độ mặn cao hơn 3 ppt.

5. Khí độc

Khi thả nuôi mật độ cao thường khí độc ammonia là vấn đề thường gặp phải, đặc biệt khi pH cao vì vậy kiểm soát pH cao vừa phải và ổn định cũng như trao đổi nước là cần thiết để kiểm soát khí độc ammonia.

6. Độ đục

Đối với các ao mới hoặc ao lót màng HDPE,bạt HDPE lót hồ tôm  vừa cải tảo lại thường 40-50 ngày nuôi đầu sẽ dễ gặp vấn đề đục nước sau khi thả tôm hoặc sau khi thay nước. Lúc đó tôm dễ bị sậm màu hoặc đỏ than vào buổi sáng. Nếu gặp vấn đề này, người nuôi cần phải giải quyết sớm khi còn tảo trong ao và trước khi tôm bỏ ăn. Để giảm độ đục, việc cần trước tiên là tắt máy quạt nước vào thời điểm ban ngày để lắng bớt các chất gây đục nước và cho tảo nổi lên phía trên, sau đó tháo bớt nước đáy ao để loại bỏ các chất lắng đọng. Nếu sau khi tắt máy quạt nước để lắng rồi tháo đáy mà vẫn còn đục thì phải can thiệp thêm các chất keo tụ để kết tủa các chất làm đục nước, rồi lại xả đáy. Sau đó châm nước mới vào và cấy thêm giống tảo vào ao nuôi  lót màng HDPE, bạt HDPE lót hồ tôm

7. Hiện tường còi – chậm lớn

Khi nuôi độ mặn quá thấp (< 2ppt), càng về sau tôm càng chậm lớn, vì vậy cần phải nâng thêm độ mặn nếu còn nuôi tiếp sau 90 ngày. Trong trường hợp thả mật độ quá cao thì cần san thưa bớt tôm qua ao khác.

Cách Giảm Giá Thành Nuôi Tôm Sú

Cách Giảm Giá Thành Nuôi Tôm Sú

tom-su-mang-hdpe-bat-lot-ho-tom tom-su-mang-hdpe-bat-lot-ho-tom

 

Theo thông tin từ Hiệp hội Xuất khẩu tôm Việt Nam, khả năng xuất khẩu tôm sú năm 2009 của Việt Nam sẽ giảm khoảng 30%.

Dịch bệnh, nhất là đốm trắng gây thiệt hại đáng kể cho người nuôi. Tuy vậy, từ đầu năm đến nay, giá thức ăn đã giảm, lãi suất ngân hàng giảm mạnh, người nuôi có nhiều kinh nghiệm hơn trong đối phó với dịch bệnh. Dưới đây là một số giải pháp cơ bản tại hội thảo chuyên đề “Làm cách nào giảm giá thành nuôi tôm sú?”, do Sở NN&PTNT vừa tổ chức tại Bình Đại.

Theo điều tra của Trung tâm Khuyến ngư, năm 2008 tổng giá thành của một ký tôm nuôi lên đến 60.000đ. Do vậy, mùa vụ 2009 phải chọn giải pháp tối ưu để hạ giá thành, trước hết là chọn mùa vụ nuôi và qui trình kỹ thuật thích hợp, an toàn, quản lý và thực hiện tốt qui trình chuẩn bị nước cấp, xử lý nước thải.

Mật độ thả giống vừa phải, quản lý chặt chẽ việc cho tôm ăn, tôm thu hoạch phải có chất lượng tốt và cỡ tôm phải thích hợp với nhu cầu của thị trường. Thứ nhất, tiết giảm chi phí, hạ giá thành: Chủ yếu thông qua các biện pháp quản lý và các giải pháp kỹ thuật như quản lý việc cấp thoát nước, cho ăn, môi trường ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm

Chọn qui trình nuôi sử dụng chế phẩm sinh học, ít thay nước, mật độ thả tôm vừa phải, chọn loại thức ăn phù hợp với qui trình, cỡ tôm thu hoạch phù hợp với nhu cầu thị trường. Việc chọn mùa vụ rất quan trọng, bởi thực tế hiện nay nuôi tôm ở Bến Tre phổ biến ở trình độ nuôi quảng canh cải tiến, thâm canh, bán thâm canh, cho nên còn lệ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Số liệu thống kê từ năm 2001-2008 cho thấy thời điểm thả giống nuôi đạt kết quả cao nhất là từ tháng 3-8(DL). Qui trình nuôi ít thay nước, tuần hoàn nước.

Nên sử dụng chế phẩm sinh học trong phòng bệnh cho tôm và xử lý môi trường ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm. Có thể sử dụng phương pháp xi-phong để hút chất thải lắng đọng dưới đáy ao sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm nếu có ao chứa chất thải. Chú ý cải tạo thật tốt ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm, dọn sạch mùn bã hữu cơ lắng tụ dưới đáy ao. Kiểm tra kỹ độ pH đáy ao để có kế hoạch bón vôi phù hợp nhằm ổn định độ pH và độ kiềm, chú ý diệt triệt để cua, còng trong ao sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm. Quản lý và thực hiện tốt qui trình chuẩn bị cấp nước, xử lý nước thải.

Theo dõi các thông tin về quan trắc môi trường, bệnh đốm trắng. Tốt nhất nên tự quan trắc trước khi lấy nước. Phải lọc nước trước khi lấy nước vào ao. Mật độ thả giống vừa phải, nếu nuôi bán thâm canh nên thả từ 10-15 con/m2, nếu nuôi thâm canh thả từ 20-30 con/m2.

Tôm giống cần được chọn lọc cẩn thận, khi thả chú ý phải thuần hóa các yếu tố nhiệt độ, độ mặn và thời điểm thả. Chọn tôm giống cùng lứa tuổi, có kích cỡ tương đối đồng đều, tránh mua giống đã bị lọc qua lưới để có kích cỡ bằng nhau, tránh hao hụt nhiều. Không sử dụng thuốc, hóa chất và nhiệt độ kích thích tôm mau lớn.

Cần tuyển chọn loại thức ăn phù hợp. Quản lý chặt việc cho tôm ăn, không để dư thừa thức ăn trong ao. Ngoài thức ăn chỉ bổ sung những chất cần thiết mà thức ăn không cung cấp đủ, không nên quá lạm dụng sẽ làm chi phí tăng nhiều mà tôm cũng không lớn nhanh hơn.

Khâu thu hoạch cũng rất quan trọng, quyết định nhiều đến lời lỗ khi nuôi. Cần theo dõi cỡ tôm dễ bán trong từng thời điểm để có quyết định thu hoạch có lợi nhất. Nếu tôm có sự cố nên ưu tiên cho công việc thu hoạch và bảo quản rồi mới liên hệ mua bán sau. Nếu thu tôm chủ động cần chọn lúc tôm có chất lượng tốt nhất. Cách Chuẩn bị ao nuôi tôm sú chính vụ

Quy Trình Nuôi Tôm Sú Thâm Canh Và Bán Thâm Canh

Quy Trình Nuôi Tôm Sú Thâm Canh Và Bán Thâm Canh

Dựa trên nền tảng quy trình nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh (TC-BTC) mà các ban, ngành chuyên môn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo;

Trên cơ sở trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất của các hộ nuôi thành công trong tình hình bệnh dịch của nhiều năm trước và trong năm 2011

bạt-hdpe-lót-hồ-tôm

hệ-thống-hồ-tôm-lót-bạt-HDPE

bạt-hdpe-lót-hồ-tôm

hồ-tôm-lót-bạt-HDPE

 

Để giúp người nuôi hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro do dịch bệnh Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bạc Liêu khuyến cáo quy trình nuôi tôm TC-BTC đang áp dụng thành công cho đối tượng tôm sú, tôm thẻ chân trắng như sau:

1.Cải tạo ao:

1.1 Xử lý đáy ao:

Sau mỗi vụ nuôi, cải tạo lại ao đầm nhằm loại bỏ các chất thải tồn lưu ra khu vực ao chứa chất thải, gia cố mái bờ xử lý triệt để rò rỉ. Đối với những ao nuôi trước đây có sử dụng các loại hoá chất, thuốc trừ sâu, hoặc nuôi nhiều vụ liên tục, nên cày xới đáy ao, phơi khô, sau đó lọc nước ngâm đáy ao khoảng 3 – 5 ngày hút nước ra ngoài và phơi đáy cho đến khô nứt nẻ. Kiểm tra pH đáy ao, nếu pH> 6 bón vôi CaO hay CaCO3 từ 70 – 100 kg/ 1000 m2, nếu pH.

Lót đáy ao và bờ ao bằng bạt HDPE lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE có độ dày 0,3 mm đến 0,5 mm

Chú ý: Không nên san ủi đáy ao quá sâu (> 1,8 m) dễ dẫn đến ao nuôi có độ pH thấp do gặp tầng sinh phèn, tôm nuôi chậm lớn do khó lột xác.

1.2 Lọc nước:

Cấp nước vào ao lắng rồi chuyển qua đầy ao nuôi bằng máy bơm hoặc cống. Cần có túi lọc bằng vải kate để hạn chế tối đa tôm, cá tạp xâm nhập vào ao.

– Tránh lấy nước trong các trường hợp sau:

+ Nguồn nước nằm trong vùng có dịch bệnh.
+ Nước có hiện tượng phát sáng vào ban đêm.
+ Nước có nhiều váng bọt, màng nhầy, nhiều phù sa đen lơ lững.
+ Không lấy nước khi thủy triều đang lên. (Nên lấy nước bắt đầu bình để hạn chế các chất phù sa lơ lững vào ao).

Lót đáy ao và bờ ao bằng bạt HDPE lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE có độ dày 0,3 mm đến 0,5 mm

– Nên lấy nước vào ao nuôi qua hệ thống ao lắng, ao chứa vì:

+ Nước ở đây đã được lắng lọc phù sa và các loại rong tảo tạp, cá tạp.

+ Nguồn nước lưu giữ trong ao lắng, ao chứa được lấy vào trước đó 10 – 15 ngày, các mầm bệnh tiềm ẩn trong môi trường sẽ giảm do không tìm được ký chủ trung gian.

1.3 Xử lý nước:

Sau khi lấy đủ mực nước trong ao sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE , để ổn định 2 – 3 ngày. Những hộ diện tích ít không có hệ thống ao lắng, ao chứa cần để ổn định nước trong ao 10 – 20 ngày) tiến hành diệt giáp xác bằng sản phẩm chuyên dùng trong nuôi thủy sản (không chứa các chất cấm sử dụng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Sau 1 – 3 ngày chạy quạt đều, trung bình ngày 4 – 6 giờ để kích thích cho trứng, ấu trùng cá tạp có trong nước nở hết và tiến hành diệt tạp, sử dụng Saponin 15 – 20 kg/1.000 m3 nước. Sau 3 – 5 ngày tiến hành diệt khuẩn, sản phẩm được sử dụng nhiều là Iodine, Virkon, Finishnano…(sử dụng lúc 8 giờ hoặc 16 giờ).

1.4 Gây màu nước:

Thực hiện gây màu nước sau khi đã diệt khuẩn từ 3 – 7 ngày. Đây là khâu quan trọng nhằm tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi. Gây màu tốt giúp ổn định môi trường nước, hạn chế được tôm bị sốc giúp tăng tỉ lệ sống: sử dụng vôi Dolomite hoặc CaCO3: 15 – 20 kg/1.000 m3 kết hợp sử dụng phân gây màu chuyên dùng như TA-ALGAUP: 20 kg/1.000 m3, hoặc sử dụng phân vô cơ NPK, DAP (2 – 3 kg/1.000 m3) hoặc sử dụng theo phương pháp truyền thống: sử dụng cám gạo, bột đậu nành nấu chín, ủ chua (2 – 3 kg/1.000 m3) sử dụng liên tục 3 – 5 ngày. Kiểm tra độ trong khi đạt 30 – 40 cm thì tiến hành cấy vi sinh.

Mục đích cấy vi sinh là để phân hủy các cặn hữu cơ lơ lững, các xác tảo chết tích tụ do dùng hóa chất diệt khuẩn trước đó, đồng thời tạo nguồn vi khuẩn có lợi giúp môi trường ao nuôi ổn định, tạo điều kiện cho tôm nuôi phát triển tốt ngay từ đầu. Tiến hành kiểm tra lại các yếu tố môi trường nếu nằm trong ngưỡng thích hợp: pH: 7,5 – 8,5 dao động trong ngày không quá 0,5: độ kiềm ≥ 70, độ mặn < 30 ‰, các chỉ tiêu H2S, NH3…= 0 thì tiến hành thả giống.

2. Phương pháp chọn và thả giống:

2.1 Chọn giống

Tôm giống tốt sẽ cho tỷ lệ sống cao, tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt. Cần áp dụng các bước sau:

a. Chọn bằng cảm quan qua các đặc điểm như:

Kích cỡ, màu sáng, sắc tố thể hiện rõ, đôi râu khép lại, các đốt bụng thon, dài, cơ bụng căng đầy, thịt đầy vỏ, đầu và thân cân đối. Tôm bơi ngược dòng nước, bám vào thành bể tốt. Phản xạ tốt khi gõ vào dụng cụ chứa. Phụ bộ tôm hoàn chỉnh, không có ký sinh trùng bám. Đường ruột đầy thức ăn. Không bệnh phát sáng.

b. Sốc formol: trước khi xét nghiệm nên sốc formol 70 – 100 ppm, thời gian 30 phút, hoặc sốc độ mặn bằng cách giảm đột ngột độ mặn xuống 50%, nếu tỉ lệ chết < 10% là đạt yêu cầu.

c. Chọn qua xét nghiệm để phát hiện, loại bỏ mẫu tôm yếu, nhiễm virus đốm trắng, đầu vàng, MBV…

2.2 Thả giống

Kích thước tôm giống thả: đối với tôm sú tốt nhất là thả giống khi đạt kích cỡ Post 12 -15. Đối với tôm thẻ chân trắng tốt nhất là Post 10 – 12.

Mật độ thả: Tùy vào điều kiện kinh tế, mức đầu tư và kỹ thuật của từng hộ, đối với tôm sú nên thả từ 10 – 20 con/m2; tôm thẻ chân trắng từ 50 – 100 con/m2.

Thả giống đúng kỹ thuật cũng góp phần tăng tỷ lệ sống của đàn tôm. Trước khi thả giống nên ngâm các bọc chứa tôm giống trong nước ao khoảng 15 phút để cân bằng nhiệt độ giữa nước trong bọc chứa tôm giống và nước ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm. Thả tôm vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát là tốt nhất.

3. Chăm sóc và quản lý:

3.1 Chăm sóc:

Hiệu quả kinh tế phụ thuộc rât nhiều vào thức ăn, cách cho ăn, sử dụng thuốc thú y thủy sản phòng ngừa bệnh, các chất khoáng vi lượng… Cần cho tôm ăn bằng thức ăn công nghiệp (CN) ngay sau khi thả giống, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, số lượng, cỡ mồi phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

– Tháng nuôi thứ 1: Ngày đầu tiên cho ăn 1,2 – 1,5 kg/100.000 con giống, cứ 2 ngày tăng 200 gam/100.000 con giống, 15 ngày sau khi thả giống đến khi thu hoạch sử dụng các sản phẩm thuốc thú y thủy sản có chức năng phòng ngừa các bệnh đường tiêu hóa, bệnh gan và cung cấp các Vitamin, các khoáng cần thiết giúp tôm tăng cường sức đề kháng (mỗi loại 5 – 10 gam/kg thức ăn). Các sản phẩm này sau khi phối trộn được bao bọc bằng 1 trong các loại chất kết dính: dầu mực, dầu cá hoặc các sản phẩm thương mại có tính năng kết dính khác, lượng dùng 15 – 20 gam/kg thức ăn.

– Tháng nuôi thứ 2 đến thu hoạch: điều chỉnh thức ăn trong ngày thông qua sàn ăn, chú ý những ngày mưa hoặc nắng gắt chỉ sử dụng 70 – 80% lượng thức ăn đã định, tránh hiện tượng thức ăn dư thừa làm ô nhiễm môi trường ao nuôi, tôm dễ phát sinh bệnh. Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, đảm bảo chu kỳ nuôi hệ số thức ăn dao động 1,3 – 1,6.

3.2 Quản lý:

Khi nuôi tôm ở mật độ dày, nhất là trong nuôi tôm thẻ chân trắng thì tất cả hệ thống sinh thái của môi trường nước đều thay đổi hoàn toàn so với những điều kiện tôm sống ngoài tự nhiên. Rất nhiều diễn biến phức tạp và sự cố xảy ra hàng giờ, hàng ngày. Dùng vi sinh đúng liều lượng sẽ giúp cân bằng hệ sinh thái, kích thích vi sinh vật có lợi lấn át vi sinh vật có hại gây bệnh cho tôm, tiết kiệm chi phí và ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE  luôn ổn định, an toàn trong suốt quá trình nuôi.

– Trong tháng nuôi 1: Chú ý gây và giữ màu nước ao nuôi, tránh trường hợp nước ao trong kéo dài sinh tảo đáy (laplap) hoặc tảo phát triển quá mức gây hiện tượng thiếu oxy về sáng, có thể gây ra hiện tượng tôm đóng rong. Định kỳ 10 – 15 ngày sử dụng vi sinh 1 lần.

– Tháng nuôi thứ 2 đến khi thu hoạch: Tôm lớn nhu cầu oxy cao nên nhất thiết không để tảo phát triển nhiều trong ao. Trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 90% các ao nuôi tôm TC-BTC đều có độ kiềm thấp < 80 ppm, đây là yếu tố quan trọng tác động đến chu kỳ lột xác và sự phát triển của tôm nuôi.

Vì vậy, định kỳ hoặc khi thấy tảo trong ao phát triển mạnh hoặc màu nước thay đổi, độ kiềm thấp…dùng vôi CaCO3 10 – 20 kg/1.000 m3 hoặc sử dụng khoáng tạt No79: 1 kg/1.000 m3, sử dụng lúc 20 – 21 giờ tối, trưa hôm sau cấy vi sinh (sản phẩm chất lượng, có uy tín, thương hiệu) nhằm phân hủy các chất thải, xác tảo, mùn hữu cơ đáy ao, tạo nên môi trường trong sạch, pH, độ kiềm ổn định giúp tôm phát triển tốt.

– Hệ thống quạt nước, hỗ trợ oxy trong ao nuôi sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE  TC-BTC là không thể thiếu, nhất là đối với nuôi tôm thẻ chân trắng. Tùy diện tích ao, mật độ nuôi mà bố trí hệ thống này cho hợp lý. Trong quá trình nuôi đặc biệt chú ý vào thời điểm 19 – 21 giờ oxy trong nước ao giảm dần và 01 – 05 giờ sáng, là thời điểm oxy thấp nhất, nhất là vào những ngày thời tiết thay đổi nắng – mưa,…nên rất cần phải vận hành hệ thống này với tốc độ trung bình 80 – 90 vòng/phút.

– Trang thiết bị dụng cụ cần sử dụng riêng biệt, vệ sinh cá nhân, dụng cụ trước và sau khi sử dụng.

3.3 Những sự cố thường gặp

Khi trong ao nuôi tôm sử dụng bạt HDPE lót hồ tôm, màng chống thấm HDPE  có biểu hiện: Mòn đuôi, đen mang, đứt các phụ bộ, sắc tố xấu, phát sáng hoặc màu nước có biểu hiện khác thường…là các bệnh do vi khuẩn, môi trường gây ra, Cần sử dụng vôi CaCO3 lượng dùng 20 – 30 kg/1.000 m3, hoặc khoáng tạt 1 kg/1.000 m3 sử dụng buổi tối trưa hôm sau cấy vi sinh (loại chất lượng và có uy tín trên thị trường) liều dùng gấp 2 – 3 lần so với dùng định kỳ, sử dụng liên tục trong 2 – 3 ngày. Trong ao xuất hiện tảo lam, tảo đỏ, laplap đáy dùng các loại sản phẩm có chức năng diệt tảo (khi sử dụng cần chuẩn bị sẵn oxy bột đề phòng khi có hiện tượng tôm nổi đầu), sau 2 – 3 ngày cấy vi sinh.

Trong trường hợp tôm nuôi bị nhiễm các bệnh do virus, đối với tôm lớn cần thu hoạch ngay, tôm nhỏ cần xử lý (diệt bỏ) tại ao, có biện pháp cách ly đối với các ao còn lại như là dùng lưới rào ngăn cua còng từ ao nhiễm bệnh bò sang, sát trùng bờ ao bằng vôi CaO hoặc CaCO3 20- 30 kg/100 m2 bờ…sau khi diệt bỏ tối thiểu 7 ngày mới xả ra ngoài môi trường.

Chú ý: Tất cả các loại vi sinh đều sử dụng vào thời điểm có nắng hoặc nếu thời tiết lạnh, mưa, cần sục khí để nhân sinh khối tăng tính hiệu quả.. Không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào để cắt tảo hay kích thích tôm lột hoặc sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi khi tôm đang phát triển bình thường để tránh có những sự cố đáng tiếc xảy ra như là tôm nổi đầu do sử dụng hóa chất làm ao mất tảo hay tôm “óp” do kích lột nhiều lần khi chưa tới chu kỳ lột, tôm chậm lớn do lạm dụng kháng sinh. Ngoài ra Điều kiện cơ bản để xây dựng ao ươm tôm sú giống lót màng HDPE